GS Ngô Bảo Châu: Thu hút nhân tài không thể chờ tự ứng cử

VnExpress – Hơn 36 năm kinh nghiệm tại môi trường học thuật quốc tế, GS Ngô Bảo Châu cho rằng để xây dựng nội lực khoa học, Việt Nam cần chủ động săn đón và mời gọi nhân tài về nước, kết hợp với đào tạo tại chỗ để nuôi dưỡng nguồn nhân lực từ bên trong.

Dù sống và làm việc tại Mỹ, GS Ngô Bảo Châu – nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới – dành nhiều tâm huyết cho sự phát triển của toán học nói riêng và khoa học nói chung tại Việt Nam. 15 năm qua, ngoài đảm nhiệm vị trí Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), ông tham gia, chủ trì nhiều hội thảo học thuật, xuất bản sách, và đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách phát triển khoa học trong nước.

Trong bối cảnh Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ với VnExpress về các kế hoạch ấp ủ trong tương lai, kinh nghiệm thu hút nhân tài, và mong muốn xây dựng một nền khoa học tầm vóc quốc tế bắt đầu từ đào tạo nghiên cứu sinh trong nước.

GS Ngô Bảo Châu - nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới - tại một tọa đàm năm 2022. Ảnh: Nhân vật cung cấp
GS Ngô Bảo Châu – nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Nuôi dưỡng “tế bào gốc” cho nền khoa học

– Sau khi giành giải thưởng Fields năm 2010, GS được Chính phủ mời về làm Giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), chung tay cùng các nhà khoa học trong nước phát triển nền toán học. Sau 15 năm, ông đánh giá liệu VIASM đã có thể so sánh với một khoa toán mạnh của trường đại học lớn trên thế giới?

– Viện không được thiết kế để tạo ra một khoa toán mạnh, cũng không có kinh phí cho đội ngũ cơ hữu. Mục đích ban đầu khi thành lập VIASM là hỗ trợ các nhà khoa học trong nước và từ đó sẽ tạo ra nhiều khoa Toán mạnh.

Trải qua hơn 15 năm, tôi nghĩ ít nhất giấc mơ của thế hệ đầu tiên xây dựng Viện đã thành hiện thực. Mức độ đầu tư của Nhà nước cho Viện còn khá khiêm tốn, nhưng nhờ cơ chế thông thoáng hơn so với các cơ sở hàn lâm ở Việt Nam, VIASM đã có một số dấu ấn nhất định, được cộng đồng khoa học quốc tế biết đến.

Đa số các nhà khoa học trong trường đại học ở Việt Nam rất thiếu thốn về cơ sở vật chất, không có hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, không có khả năng, kinh phí mời các nhà khoa học quốc tế về cộng tác. Trong 15 năm qua, Viện đã hỗ trợ kết nối các giáo sư quốc tế đến Việt Nam, tạo ra điểm gặp gỡ học thuật cho giới toán học trong và ngoài nước.

Điều quan trọng là VIASM đã tạo dựng được uy tín cao trong cộng đồng nhà khoa học châu Á và thế giới. Viện cũng xây dựng mạng lưới học giả hội tụ (VIASM Convergence Fellows Program), tức các nhà khoa học thành danh ở nước ngoài về Việt Nam làm việc, với vị trí đồng cơ hữu trong một số tháng nhất định và liên tục nhiều năm. Năm 2026 cũng sẽ có 6-7 học giả hội tụ như thế.

Tuy nhiên, đã đến lúc VIASM cần được đầu tư mạnh mẽ hơn, và xây dựng một hướng đi mới để bứt phá. Tôi cũng không thể đảm nhiệm công việc Giám đốc Khoa học của Viện suốt đời, sẽ có lúc cần chuyển giao cho những người trẻ tiếp quản. Thế nên, 2-3 năm nay, tôi và Ban Giám đốc của Viện tích cực chuẩn bị cho thế hệ kế cận, chủ động mời họ tham gia các công việc của Viện.

– Sau nhiều năm làm việc ở Pháp, rồi sang Mỹ, và gần đây có thông tin cho rằng GS sẽ trở về châu Á để bắt đầu sự nghiệp mới. Kế hoạch của ông thế nào?

– Với tôi, cuộc sống giống như một vòng tròn nhưng không quay lại chỗ cũ sau mỗi vòng quay. 18 năm đầu tôi sinh ra và trưởng thành ở Việt Nam, rồi sang Pháp học và làm việc 18 năm, qua Mỹ cũng đã 18 năm, tới giờ trên con đường trở lại châu Á. Trước đây, tôi không có ý định rời Mỹ dù nhận nhiều lời mời, nhưng một năm qua, tôi bắt đầu thay đổi ý định. Tôi sẽ chính thức bắt đầu công việc ở Đại học Hong Kong từ tháng 6/2026.

Lý do đầu tiên là bố mẹ tôi cũng lớn tuổi nên tôi muốn chuyển về gần Việt Nam hơn. Thêm nữa, nhiều năm qua, một việc tôi rất muốn làm, song chưa thể thực hiện vì thiếu thời gian, cơ hội, đó là trực tiếp đào tạo học sinh, sinh viên trong nước.

Ở Mỹ, mỗi năm tôi về Việt Nam nhiều lắm được hai lần, dịp hè khoảng 2-3 tháng, còn mùa đông xuân thì 2-3 tuần. Trong khi, tôi vẫn đảm trách vị trí Giám đốc Khoa học của VIASM, nên khi về nước thường phải xử lý cả các công việc liên quan đến quản lý, rất mất thời gian.

Nếu ở Hong Kong, 1-2 tuần tôi có thể bay về nước một lần. Tôi dự định trực tiếp đào tạo cho học sinh, sinh viên và các nghiên cứu sinh Việt Nam – điều tôi luôn ấp ủ. Ngoài ra, tôi cũng kỳ vọng xây dựng một mạng lưới nghiên cứu Toán ở châu Á, tập hợp các nhà khoa học trong khu vực. Về Hong Kong, tôi có thể hiện thực hóa ước muốn này.

GS Ngô Bảo Châu (áo xanh, ngồi giữa) cùng các nhà khoa học quốc tế tại hội thảo thường niên của VIASM năm 2023. Ảnh: VIASM
GS Ngô Bảo Châu (áo xanh, ngồi giữa) cùng các nhà khoa học quốc tế tại hội thảo thường niên của VIASM năm 2023. Ảnh: VIASM

– Một nền khoa học mạnh phải đào tạo được những người giỏi, tầm cỡ thế giới. Toán học Việt Nam nhiều năm qua chủ yếu dừng ở mức độ tôn vinh các học sinh đoạt giải Toán quốc tế, còn đội ngũ nghiên cứu tên tuổi khá ít ỏi. Theo GS, làm sao để khắc phục tình trạng này?

– Tôi nghĩ nhiều nhà quản lý cho rằng trong đào tạo cần phải có tự chủ, phải có hạch toán thu chi. Vì thế, các nghiên cứu sinh được nhìn nhận như một nguồn thu tài chính, phải trả học phí. Tư duy đó rất thô sơ.

Trên thế giới, doanh thu của các trường đại học đến từ đào tạo sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu và các khoản tài trợ. Còn nghiên cứu sinh là nơi cần đầu tư, vì đó là những người đang học cách tạo ra tri thức. Đây là công đoạn có thể so sánh với tế bào gốc trong phát triển khoa học, xứng đáng được đầu tư.

Cách đây hơn 5 năm, khi xây dựng Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2021-2030, chúng tôi đã đề nghị Nhà nước có học bổng cho nghiên cứu sinh, nhưng đề nghị này đã bị bác do Nghị định về học bổng không có đối tượng sau đại học.

Vì vậy, tôi rất mừng khi Nghị quyết 57 (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) đề cập đến sự cần thiết có cơ chế, chính sách hấp dẫn thu hút học sinh, sinh viên giỏi trong các lĩnh vực then chốt, nhất là ở trình độ sau đại học. Mới đây, tôi được biết đã có chủ trương miễn học phí và cấp học bổng ngay từ năm nay cho nghiên cứu sinh tại một số đại học trọng điểm (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Bách Khoa Hà Nội – PV). Đây là một hướng đi hoàn toàn đúng, nhưng giá mà điều này được thực hiện từ 5 năm trước!

Tôi hy vọng ngay trong năm 2026, chương trình đào tạo tiến sĩ Toán học xuất sắc phối hợp giữa VIASM và Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ được thông báo và chính thức tuyển sinh. Chương trình đặt mục tiêu đào tạo những tiến sĩ có trình độ tương đương các trường, viện tiên tiến trên thế giới, với sự tham gia của các nhà toán học hàng đầu Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Tuyển người giỏi phải chủ động

– Nhiều năm qua, Trung Quốc đã thực hiện quyết liệt chương trình thu hút nhân tài từ các nước trên thế giới với sự trở về của hàng loạt học giả nổi tiếng. Không chỉ trải thảm đỏ mời gọi nhà khoa học xuất thân từ Trung Quốc, họ còn tích cực chiêu mộ các giáo sư quốc tế tiếng tăm. Theo ông, điều gì giúp Trung Quốc thành công trong thu hút nhân tài?

– Những năm qua, Trung Quốc đầu tư rất lớn vào khoa học công nghệ, nhất là các ngành mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI). Trong cuộc trò chuyện tình cờ giữa tôi với một giáo sư người Pháp từ năm 2018, ông cho biết toàn bộ đầu tư của Pháp về AI mấy năm qua chỉ bằng mức đầu tư của một thành phố Trung Quốc trong một năm. Không chỉ Nhà nước, các công ty tư nhân Trung Quốc và nhiều quốc gia khác cũng đầu tư thành lập các viện nghiên cứu về Toán.

Trong khoa học cơ bản, hơn 15 năm nay, Trung Quốc đã chuẩn bị rất bài bản để tích cực thu hút nhà khoa học tên tuổi khắp thế giới. Ví dụ như kế hoạch Ngàn người tài (Thousand Talents Plan – TTP) được khởi xướng từ năm 2008 nhằm chiêu mộ những bộ óc thông minh đang học tập hoặc làm việc tại nước ngoài.

Ban đầu, việc này khá khó khăn vì không phải ai cũng hào hứng, nhất là các nhà khoa học trẻ. Bởi khi đã thành danh ở quốc tế, họ vẫn cần môi trường nghiên cứu lớn như Mỹ để phát triển. Nhưng dần dần, kế hoạch đã thành công rực rỡ.

Bên cạnh việc đưa ra những lợi ích vật chất như lương bổng, tài trợ để thực hiện nghiên cứu, xây dựng các trung tâm khoa học, tôi nhận thấy sự quyết tâm của lãnh đạo từng trường đại học. Với họ, việc chiêu mộ thành công một nhân tài là thành tích lớn của trường và dành nhiều thời gian, trực tiếp tham gia công việc này. Họ không chờ các nhân tài tự ứng cử.

Nhiệm vụ tìm kiếm nhân tài được giao cho hiệu trưởng, và họ hiểu rõ rằng chỉ có thu hút được những người giỏi thì mới có thể xây dựng đội ngũ khoa học chất lượng. Các nhà khoa học hàng đầu được mời về sẽ trở thành thỏi nam châm để thu hút những tên tuổi lớn khác.

Giờ đây, ở những trường lớn như Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, đội ngũ nhà nghiên cứu trẻ không thua kém gì các đại học lớn nhất Mỹ, với số lượng áp đảo hơn. Nghiên cứu khoa học về Toán của Trung Quốc thay đổi rõ rệt trong 5 năm gần đây. Và quan trọng, kế hoạch thu hút nhân tài của họ chưa dừng lại, mà ngày càng quyết liệt hơn.

– Từ kinh nghiệm cá nhân, theo ông làm thế nào thu hút người tài?

– Tôi giữ vị trí Trưởng khoa Toán ở Đại học Chicago (Mỹ) gần ba năm nay, vì thế cũng đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm trong việc tuyển mộ người tài.

Để tuyển được một nhà khoa học giỏi rất khó vì tỷ lệ cạnh tranh rất cao. Họ luôn có sẵn 3 – 4 trường đại học lớn mời chào. Mỗi trường có một gói đề xuất khác nhau về tài chính, bao gồm lương và quỹ hoạt động khoa học, họ được toàn quyền sử dụng, không phải hỏi ý kiến. Đó là lợi ích về vật chất, bắt buộc phải cạnh tranh.

Khi các quyền lợi vật chất là như nhau, thì người ta sẽ xét những yếu tố khác quan trọng không kém, như cơ hội phát triển khoa học, có nghiên cứu sinh giỏi, có sinh viên giỏi. Ở Đại học Chicago, chúng tôi có không khí khoa học sôi nổi, thường mời các nhà khoa học hàng đầu đến trao đổi. Bên cạnh chỗ dựa tài chính vững chắc, điểm khác biệt là tạo được môi trường mà ở đó nhà khoa học được thực hiện đúng thiên chức của mình, đó là tìm ra tri thức mới và đào tạo các nhà khoa học tương lai.

Khi lựa chọn về Hong Kong, dù hiểu rằng môi trường khoa học chưa bằng các đại học lớn ở Mỹ, nhưng tôi chấp nhận đánh đổi. Tôi nghĩ ở tuổi mình thì phải tự tạo ra không khí đó, chứ không chỉ thụ hưởng.

GS Ngô Bảo Châu chia sẻ tại Hội thảo kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế (1974-2024). Ảnh: VIASM
GS Ngô Bảo Châu chia sẻ tại Hội thảo kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế (1974-2024). Ảnh: VIASM

– Không chỉ muốn thu hút nhân tài, Việt Nam cũng mong muốn có các nghiên cứu khoa học tầm cỡ thế giới. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để đạt mục tiêu này?

– Về cơ bản, cách đánh giá chất lượng công trình khoa học hiện nay tại Việt Nam chủ yếu dựa vào các chỉ số như số lượng công bố nằm trong một bảng xếp hạng quốc tế. Những chỉ số đó chỉ cho phép đánh giá xem mình ở vị trí trên trung bình hay không. Vì thế, nếu chúng ta theo đuổi các chỉ số này, sẽ không bao giờ vươn lên vị trí dẫn đầu.

Tôi nghĩ không nên đặt trọng tâm vào các con số, mà phải thay bằng các cách thức khác, thực ra lại dễ kiểm chứng hơn.

Nếu muốn đánh giá một nền khoa học có đủ tầm quốc tế, chúng ta hãy xem những nghiên cứu sinh mà họ đào tạo có đủ khả năng cạnh tranh quốc tế hay không.

Với đội ngũ giảng viên, hiện nhiều trường còn chưa đủ giáo sư cơ hữu. Do đó, chúng ta nên xây dựng cơ chế bán thời gian, đưa nhà khoa học nước ngoài về nước. Điểm mấu chốt là phải đào tạo ở Việt Nam, chứ không chỉ gửi ra nước ngoài. Chúng ta cần xây dựng nội lực từ trong nước.

Đại học muốn có nghiên cứu sinh giỏi cần đầu vào là sinh viên giỏi, và để có sinh viên giỏi cần chuẩn bị từ lớp dưới. Lứa học sinh chuyên toán có rất nhiều em giỏi, năng lực giải toán ấn tượng, nhưng đa số không được tiếp xúc với toán cao cấp hay nghiên cứu về toán. Do đó, thời gian tới, tôi muốn tổ chức các khóa học/seminar định kỳ, mục tiêu để các em sinh viên, học sinh làm quen với nghiên cứu toán cơ bản. Đó chính là nhóm nghiên cứu sinh tương lai sau này.

– Việt Nam đặt mục tiêu trở thành cường quốc khoa học công nghệ, nhất là về trí tuệ nhân tạo (AI). Tổng Bí thư Tô Lâm cũng từng nhấn mạnh phải quan tâm đến khoa học cơ bản, và đặc biệt là toán học lý thuyết thì mới có được AI, công nghệ sinh học, lượng tử… Theo Giáo sư, toán học có thể đóng góp vào mục tiêu này thế nào?

– Bối cảnh hiện nay chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của AI. Các trường đại học trên thế giới đều có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Mức độ đầu tư vào AI ngày càng khủng khiếp. Dẫu phát triển nhanh chóng, nó vẫn còn rất nhiều ẩn số, nhất là độ tin cậy.

Các công ty AI hiện đang đầu tư vào toán học với chi phí khổng lồ. Hiệu quả được đánh giá thông qua việc AI có thể giải toán được hay không. Việc tạo ra các thuật toán để giải quyết các bài toán mở là thước đo rất quan trọng để xác định mức độ tinh xảo, rủi ro, khả năng suy luận của AI.

Tôi nghĩ rằng, với sự phát triển của AI như bây giờ, nếu không đầu tư mạnh mẽ vào các môn khoa học về toán (Mathematical Sciences) chắc chắn chúng ta sẽ bị tụt hậu. Đó là vấn đề cấp thiết cho tương lai của bất kỳ nước nào, không chỉ riêng Việt Nam.

Với Việt Nam, tôi thấy sự chuyển mình rất mạnh mẽ những năm gần đây. Đặc biệt, giới khoa học rất phấn khởi với Nghị quyết 57. Bản thân tôi cũng rất vui và cho rằng đây là hướng đi đúng đắn và chúng ta không có lựa chọn nào khác. Tôi hy vọng rằng những chính sách này sẽ sớm được triển khai, hiện thực hóa.

Thành Nam – Mây Trinh – Lộc Chung
Nguồn: VnExpress

Từ nay tới năm 2030 cần tăng nguồn lực tài chính cho GDĐH lên ít nhất 2-3 lần

GDVN – Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.

LTS GDVN: Hiện nay, ngân sách đầu tư cho giáo dục đại học đang rất thấp (chỉ chiếm 0,27% GDP theo thống kê của Bộ Tài chính năm 2020).

Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.

Bài toán tài chính với các trường đại học đến nay vẫn là một thách thức lớn. Để hiểu rõ hơn về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Phóng viên: Giáo dục đại học có vai trò quan trọng, đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, cần có đầu tư tương xứng. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn đánh giá như thế nào về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Giáo dục đại học có sứ mạng phát triển con người thế hệ mới, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

Đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, mang lại hiệu quả trực tiếp và lâu dài cho người học và gia đình (lợi ích riêng hay lợi ích tư) cũng như cho cả nền kinh tế và toàn xã hội (lợi ích chung hay lợi ích công), vì vậy mà cả nhà nước, người học và toàn xã hội cùng có trách nhiệm chia sẻ kinh phí đầu tư.

Quy mô và chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định đó là nguồn lực tài chính.

Thực chất, các yếu tố bảo đảm chất lượng bên trong như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, phương thức đào tạo… cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn lực tài chính.

Theo báo cáo “Giáo dục, đào tạo Việt Nam – Kết quả đánh giá từ Tổng điều tra kinh tế năm 2021” của Tổng Cục thống kê, tổng chi của tất cả cơ sở giáo dục đại học trong năm 2020 là gần 47,8 nghìn tỉ đồng, tương đương 0,6% GDP.

Như vậy, suất chi bình quân trên một người học xấp xỉ 25,8 triệu đồng, tương đương với 31% bình quân GDP trên đầu người, số liệu này khá trùng khớp với tính toán qua khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đáng chú ý là so với năm 2016, tổng chi của khối giáo dục đại học năm 2020 chỉ tăng 0,3 nghìn tỉ đồng (tăng 0,6%), trong khi đó tổng chi của khối giáo dục phổ thông năm 2020 tăng 43,7 nghìn tỉ đồng (tăng 34,2%).

2.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Theo số liệu do Bộ Tài chính cung cấp, dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học năm 2020 là 16,7 nghìn tỉ, tương ứng với 0,96% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,62% dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo hay 0,27% GDP.

Tuy nhiên, kinh phí thực chi chỉ đạt 11,32 nghìn tỉ, tương ứng 0,65% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,06% ngân sách nhà nước thực chi cho giáo dục, đào tạo hay 0,18% GDP (tỉ trọng kinh phí thực chi cho giáo dục đại học trên GDP năm 2018 là 0,20% và năm 2019 là 0,19%).

Như vậy, dự toán ngân sách nhà nước chiếm 34,9% tổng chi của toàn khối giáo dục đại học (phù hợp với số liệu cơ cấu nguồn thu do Tổng cục Thống kê đưa ra), nhưng tỉ trọng thực chi chỉ đạt 23,7%.

Những con số trên đây cho thấy nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học ở nước ta không những rất thấp, mà thực tế còn giảm trong một số năm gần đây nếu tính tới chỉ số lạm phát.

Mặc dù trong điều kiện như vậy, hệ thống giáo dục đại học đã có những chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu và hội nhập quốc tế, nhưng thực tế đang rơi vào “bẫy chất lượng trung bình”.

Có thể nói, nguồn lực tài chính đang là điểm nghẽn lớn nhất đối với phát triển giáo dục đại học và thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của nước ta.

3.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Phóng viên: So với các nước có cùng mức sống và các nước phát triển, nguồn lực đó đang ở mức độ nào, thưa Thứ trưởng?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Theo số liệu thống kê của OECD năm 2020 (không tính đào tạo trình độ cao đẳng), tỉ trọng tổng chi của các cơ sở giáo dục đại học trên GDP bình quân các nước khối OECD đạt 1,4%, khối EU đạt 1,3%, Hàn Quốc 1,4%, Nhật Bản 1,2 %, Australia 1,7% và Anh 1,9%, cao gấp từ 2 đến 3 lần so với Việt Nam (0,6%).

Tính theo suất chi bình quân cho một người học (đại học và sau đại học) trên bình quân GDP/đầu người, bình quân các nước khối OECD là 42%, khối EU 40%, Hàn Quốc 30%, Nhật Bản 49%, Australia 45% và Anh 62%, trong khi tỉ lệ này của Việt Nam là 31% (GDP bình quân đầu người ở Việt Nam thấp hơn nhiều lần so với các quốc gia nói trên).

Biểu đồ 1.jpg
Biểu đồ 2.png

Đối sánh tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo, theo thống kê năm gần nhất (có số liệu) của Ngân hàng thế giới thì bình quân nhóm quốc gia thu nhập thấp đạt 19%, nhóm quốc gia thu nhập trung bình đạt 18% và nhóm quốc gia thu nhập cao đạt 23%, cao hơn gấp 4 đến 5 lần so với Việt Nam (dù lấy số liệu thực chi 4,06% hoặc số liệu dự toán 4,62%).

Tính theo tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP, số liệu bình quân các nước khối OECD trong giai đoạn 10 năm gần đây đều giữ ổn định ở mức xấp xỉ 1%, trong khi Cộng hòa liên bang Đức có tỉ trọng tăng dần và đạt 1,39% vào năm 2020.

Đối với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP năm 2020 nằm trong khoảng từ 0,6% tới 0,75%, mặc dù đã giảm nhiều sau một giai đoạn đầu tư mạnh nhiều năm trước (Malaysia năm 2001 đạt 2,56%, Thái Lan năm 2000 đạt 1,07%, Singapore năm 2012 đạt 1,17%).

Biểu đồ 3.png

Như vậy, tính trên tất cả các chỉ số quan trọng, mức đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam đều thấp hơn nhiều lần so với các nước thuộc nhiều nhóm khác nhau.

Nhìn ngay sang Trung Quốc, một quốc gia điển hình mà chúng ta có thể học hỏi được nhiều từ đổi mới phát triển nền kinh tế dựa trên khoa học và công nghệ, 24 đại học có dự toán ngân sách thu chi lớn nhất năm 2023 đều vượt 10 tỉ Nhân dân tệ, trong đó 4 đại học vượt 20 tỉ Nhân dân tệ (quy đổi sang USD: Đại học Thanh Hoa 5,67 tỉ, Đại học Chiết Giang 4,26 tỉ, Đại học Giao thông Thượng Hải 3,66 tỉ, Đại học Bắc Kinh 3,11 tỉ); chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước bình quân trên một sinh viên/năm là 39.220 Nhân dân tệ (tương đương 5.415 USD).

Phóng viên: Theo Thứ trưởng, chúng ta cần phải tăng nguồn lực tài chính mức nào để đáp ứng yêu cầu năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước có thu nhập cao như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Để đạt được mục tiêu tới năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước phát triển, có thu nhập cao, thì phải thực hiện được đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải tháo gỡ được điểm nghẽn về tài chính cho giáo dục đại học và khoa học, công nghệ.

Những số liệu phân tích trên đây đã chỉ rõ, trong giai đoạn tới 2030 chúng ta cần tăng nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học lên ít nhất 2 đến 3 lần so với hiện nay, cả từ ngân sách nhà nước và nguồn lực huy động từ xã hội.

Đây cũng là nội dung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất, kiến nghị trong dự thảo Báo cáo tổng kết 10 thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương khóa XI đã trình Bộ Chính trị, cũng như trong dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục tới 2030 và dự thảo Báo cáo Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm đang trình Thủ tướng Chính phủ.

4.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Phóng viên: Việc huy động các nguồn lực xã hội, sự tham gia của người dân và tổ chức xã hội đối với giáo dục đại học của nước ta hiện còn hạn chế.

Theo Thứ trưởng, làm sao để nguồn lực đầu tư của Nhà nước có thể dẫn dắt đầu tư công, để đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhằm tạo nên một sức bật cho giáo dục đại học nước nhà?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Các nguồn thu chính của các cơ sở giáo dục đại học bao gồm kinh phí từ ngân sách nhà nước, học phí của người học, kinh phí hợp đồng khoa học-công nghệ từ doanh nghiệp, hoạt động dịch vụ khác của cơ sở giáo dục đại học và tài trợ, cho tặng từ các tổ chức, cá nhân.

Như vậy, cần phải đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, đồng thời phải có những chính sách phù hợp nhằm tăng cường huy động các nguồn lực từ xã hội.

Trước hết, cần minh bạch hóa toàn bộ kết quả hoạt động của tất cả cơ sở giáo dục đại học thông qua các chỉ số chủ yếu, bao gồm cả kết quả tài chính, trên cơ sở đó phân tích hiệu quả chi ngân sách nhà nước ở các cấp độ lĩnh vực đào tạo, cơ sở đào tạo và cả hệ thống giáo dục đại học, xây dựng và triển khai hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, lấy hiệu quả đầu tư là tiêu chí chủ yếu.

Đồng thời, gắn phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học với phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ, bảo đảm tỉ trọng ngân sách nhà nước chi cho nghiên cứu, phát triển tại các cơ sở giáo dục đại học tương xứng với năng lực và kết quả hoạt động nghiên cứu, phát triển.

Để thu hút, khuyến khích doanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá nhân hợp tác, tài trợ cho các cơ sở giáo dục đại học trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục đổi mới các chính sách ưu đãi về thuế.

Khi năng lực của các cơ sở giáo dục đại học được tăng cường đồng thời trình độ của nền công nghiệp nước ta từng bước được nâng lên, nhu cầu hợp tác, tài trợ nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ gia tăng.

5.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn trong cơ chế sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước, trao quyền sở hữu trí tuệ cho các cơ sở giáo dục đại học đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ từ ngân sách nhà nước, đồng thời cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập đầu tư rủi ro vào các dự án khởi nghiệp, công ty khởi nguồn.

Có như vậy, các cơ sở giáo dục đại học mới thúc đẩy được hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp, cải thiện được cơ cấu nguồn thu đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu.

Trên cơ sở đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, để có thể huy động tốt hơn, hiệu quả hơn sự đóng góp từ người học, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung đổi mới chương trình và phương thức đào tạo, gắn kết với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thị trường việc làm, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, qua đó củng cố niềm tin và thu hút người học.

6.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách học phí gắn với cải tiến và mở rộng các chính sách hỗ trợ người học (đại học và sau đại học), nhất là chính sách học bổng khuyến khích học tập và tín dụng ưu đãi, căn cứ điều kiện kinh tế, năng lực học tập và lĩnh vực, ngành học, không phân biệt trường công lập hay tư thục.

Cuối cùng, chính sách tốt nhất để huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội đó là tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm tự chủ đại học đi vào chiều sâu, thực chất và toàn diện.

Khi đó, các cơ sở giáo dục đại học sẽ phải đổi mới hệ thống quản trị để phát huy tối đa nội lực, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ nhà nước (bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản trí tuệ, thương hiệu nhà trường) để đẩy mạnh hợp tác và thu hút tài trợ từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.

Các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ phải chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu, giữ gìn lòng tin đối với người học và xã hội thông qua liên tục nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Nói cách khác, cơ chế tự chủ chính là cái đòn bẩy cho phát triển giáo dục đại học, đã có điểm tựa chắc chắn, cần phải gỡ bỏ mọi sức cản và tăng đầu tư nguồn lực của nhà nước vào đúng chỗ.

8.jpg
Giảng viên và sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tại cuộc thi Sáng tạo trẻ năm 2023 (Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội)

Phóng viên: Từ thực tiễn cho thấy, dù chúng ta có tăng nguồn lực từ Nhà nước, từ xã hội đến đâu đi chăng nữa thì cũng không bao giờ đáp ứng được yêu cầu phát triển. Phải chăng chúng ta cần phải xác định rõ những lĩnh vực cần phải ưu tiên, các trình độ của giáo dục đại học cần phải ưu tiên, thưa Thứ trưởng?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Đúng vậy, đã là đầu tư thì dù từ nguồn lực của Nhà nước hay xã hội cũng cần ưu tiên vào những nơi mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất, tạo sức bật lớn nhất cho cả hệ thống. Đối với cả hệ thống giáo dục đại học thì đầu tư cho thu hút, đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên gắn với công tác nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ cần phải được ưu tiên hàng đầu.

Đối với người học thì đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện chính sách cần được đặc biệt quan tâm.

Các lĩnh vực đào tạo cần được ưu tiên đầu tư cũng đã được chỉ rõ trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là các lĩnh vực thiết yếu đối với lợi ích chung của toàn xã hội và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, đặc biệt các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ then chốt phục vụ phát triển và ứng dụng công nghệ cao.

Cuối cùng, các cơ sở giáo dục đại học cần được ưu tiên đầu tư nhiều nhất chính là các cơ sở giáo dục đại học công lập có uy tín và năng lực mạnh nhất cả nước và từng vùng về đào tạo, nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên, có khả năng dẫn dắt và ảnh hưởng lan tỏa tới toàn hệ thống.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn.

Thùy Linh (thực hiện)