Tổng hợp các bài viết về kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc và yêu cầu sự chuyển đổi căn bản về nhận thức và hành động.
Khởi đầu cho nhiệm kỳ mới, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn có một chia sẻ với Tuổi Trẻ về những nhận định của ông về thách thức và cơ hội của giáo dục.
Nữ sinh Trường THPT Trần Phú (phường Phú Thọ Hòa, TP.HCM) trong ngày khai giảng năm học mới 2025-2026 – Ảnh: THANH HIỆP
Những gì ông sẽ nỗ lực ở vị trí “tư lệnh ngành”?
Cơ hội cho đại học
* Trong bối cảnh cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhiều cơ sở đại học đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào các ngành mạnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng, hợp tác quốc tế nhưng đó vẫn là những nỗ lực đơn lẻ. Ở nhiệm kỳ của mình, ông có dự định gì trong việc đề xuất, triển khai để tạo cơ hội hình thành các trường/nhóm trường mạnh có sức cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo nhân lực chất lượng cao?
– Nghị quyết số 57 và số 71 của Bộ Chính trị đã mở ra một cơ hội chưa từng có cho hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục đại học nói riêng với những chủ trương, quyết sách và cam kết nguồn lực đầu tư mạnh mẽ.
Nghị quyết 57 đã xác định các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm ngang tầm khu vực và thế giới, trở thành các trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành bốn văn bản luật và hai nghị quyết, trong đó có những cơ chế, chính sách đột phá và chương trình mục tiêu quốc gia.
Học sinh Hà Nội tìm hiểu về thiên văn. Đây là một hoạt động trải nghiệm có thể đưa vào buổi 2 trong hướng dẫn của Bộ GD-ĐT – Ảnh: VĨNH HÀ
Để cụ thể hóa các chủ trương thành hành động, giải pháp cụ thể, trong thời gian qua bộ đã chủ trì và cũng như phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nhiều đề án phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đề án và chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng có một cấu phần quan trọng, đó là đầu tư trọng điểm cho khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phấn đấu có ít nhất 8 đại học thuộc nhóm đầu khu vực châu Á. Hiện nay bộ cũng đang hoàn thiện trình Chính phủ một số nghị định về cơ chế tài chính, tự chủ đại học và chính sách học bổng cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy có thể nói cơ sở chính trị, pháp lý với hệ thống cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được thiết kế khá đầy đủ. Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Học sinh ở đặc khu Trường Sa trong niềm vui đến trường – Ảnh: NGỌC ÁNH
* Hành trình giao tự chủ cho đại học đã có một bước tiến dài, tuy nhiên còn có nhiều vấn đề bất cập. Nhưng dường như giai đoạn vừa qua việc tự chủ mới chỉ là trông đợi vào đóng góp xã hội, tự chủ là trường tự lo, là càng xã hội hóa càng nhiều càng thành công. Quan điểm của ông về tự chủ đại học là như thế nào? Theo ông, việc gì cần cấp bách xử lý để thúc đẩy việc này?
– Trong thời gian 8 đến 10 năm trở lại đây, chính sách tự chủ đại học đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và tư thục, đã rất chủ động, nỗ lực huy động các nguồn lực, tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên để có năng lực cạnh tranh quốc tế và đáp ứng tốt yêu cầu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cho phát triển đất nước, những sự nỗ lực của riêng các cơ sở giáo dục đại học là không đủ khi nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí và chính sách xã hội hóa.
Đây là một điểm nghẽn lớn đã được chỉ ra trong nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: “quan niệm về tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững”.
Từ đó, nghị quyết 71 khẳng định “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân”, “Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính”.
Phần nhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết cũng đã nêu rõ “…chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học”.
Như vậy, quan điểm về tự chủ đại học và chủ trương tăng mạnh đầu tư cho giáo dục đại học đã được khẳng định rõ trong nghị quyết của Đảng. Nội dung này cũng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới được
Quốc hội ban hành cuối năm 2025. Vấn đề còn lại là quản trị thực thi, trong đó đặc biệt là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ Nhà nước cũng như huy động nguồn lực từ xã hội.
Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn
Đội tuyển học sinh Việt Nam dự thi Olympic hóa học quốc tế Mendeleev (IMChO) lần thứ 60 giành 2 huy chương vàng, 2 huy chương bạc. Tất cả các thành viên trong đội tuyển đều có giải. – Ảnh: BỘ GD-ĐT
Nhà nước cần tài trợ, đặt hàng đại học
* Ông từng bày tỏ quan điểm các trường tự chủ nhưng Nhà nước vẫn cấp kinh phí “đặt hàng” cơ sở đại học để triển khai các dự án mang tính trọng điểm. Nhưng trên thực tế vấn đề này vẫn đang gặp khó khăn. Theo ông, cần giải quyết những gì từ cơ chế và năng lực của các cơ sở đại học để hiện thực hóa được điều này?
– Chúng ta nói nhiều và kỳ vọng nhiều vào đổi mới cơ chế tài chính đại học thông qua “đặt hàng” các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên cơ chế đặt hàng đào tạo hiện nay mới được thực hiện ở phạm vi rất hẹp do một số vấn đề vướng mắc, chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận “đặt hàng theo đầu vào”.
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì xây dựng nghị định của Chính phủ có nội dung về cơ chế đặt hàng theo đầu ra. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ đặt hàng và chi trả cơ sở đào tạo theo số người tốt nghiệp thực tế được nhận vào làm việc tại nơi làm việc và trong lĩnh vực theo nhu cầu đặt hàng.
Đối với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cần phân biệt rõ giữa “tài trợ” và “đặt hàng”. Khác với tài trợ nghiên cứu khi mà sản phẩm đầu ra chủ yếu do nhóm nghiên cứu quyết định bảo đảm phù hợp với mục đích tài trợ, vấn đề mấu chốt đối với đặt hàng nghiên cứu và phát triển là cần xác định rõ yêu cầu kết quả đầu ra là gì và ai có nhu cầu cũng như trách nhiệm đặt hàng.
Cũng cần nhìn nhận sứ mạng và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là để tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhiều kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giải pháp và sản phẩm ứng dụng, mang lại giá trị thương mại trong thực tế, nhưng đó là một chặng đường dài và cần có sự tham gia, đồng hành và hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp.
Vì vậy Nhà nước cần tài trợ và đặt hàng đại học để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo ra tri thức và công nghệ mới nhưng doanh nghiệp thì cần hợp tác với đại học để kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và giải pháp thực tế.
PGS.TS. Bùi Hồng Thuỷ – Khoa Công nghệ Sinh học ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP.HCM – hướng dẫn thực hành sinh viên tại Phòng thí nghiệm về tế bào và gen – Ảnh: BÍCH NGỌC
Giáo dục phổ thông: 3 việc sẽ phải làm tốt
* Theo quan điểm của ông, vấn đề nào của giáo dục phổ thông hiện nay cần được ưu tiên quan tâm. Và trong nhiệm kỳ của mình, những việc ông sẽ ưu tiên làm nhằm hướng đến đảm bảo công bằng về tiếp cận giáo dục, nâng chất lượng giáo dục và từng bước giải quyết các tiêu cực đang để kéo dài?
– Đối với giáo dục phổ thông, vấn đề lớn nhất cần được quan tâm đó là đầu tư đủ trường lớp, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên đạt chuẩn.
Bên cạnh đó là chế độ chính sách đối với đội ngũ giáo viên và đối với những học sinh thuộc đối tượng, khu vực có điều kiện khó khăn. Đồng thời cần nhanh chóng xây dựng nền tảng giáo dục thông minh quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát và cung cấp miễn phí cho học sinh ở mức độ cơ bản, tạo điều kiện cho từng em có lộ trình học tập cá thể hóa.
Làm tốt được ba việc này chúng ta sẽ cơ bản giải quyết được vấn đề công bằng trong tiếp cận, nâng cao chất lượng giáo dục và giảm thiểu tiêu cực trong thi cử, dạy thêm học thêm.
Học sinh chúc mừng giáo viên nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 – Ảnh: NHƯ HÙNG
Hướng tới học thật, thi thật
* Câu chuyện về áp lực thi cử, tiêu cực trong thi cử vẫn tồn tại nhiều năm qua và có xu hướng tăng hơn. Theo ông, cần các giải pháp cụ thể, sâu sát ra sao để hướng tới việc “học thật, thi thật”?
– Có hai nguyên nhân sâu xa dẫn tới áp lực thi cử, tiêu cực trong thi cử. Thứ nhất, chênh lệch giữa nhu cầu học tập với khả năng đáp ứng của các nhà trường dẫn tới các gia đình và học sinh phải chạy đua học thêm, cạnh tranh thi cử để giành suất học, giành chỗ học tốt.
Thứ hai, việc đánh giá kết quả học tập, công tác tuyển sinh và tuyển dụng phụ thuộc nhiều vào điểm số các kỳ thi cũng sẽ làm tăng áp lực và hiện tượng tiêu cực trong thi cử.
Qua ví dụ cải tiến công tác tuyển sinh đại học trong những năm gần đây cho thấy khi cung và cầu đã cân đối và phương thức, tiêu chí tuyển sinh đa dạng hơn, áp lực thi cử và tiêu cực đã giảm hẳn.
Bên cạnh ba giải pháp ưu tiên tôi nêu trong câu hỏi trước, chúng ta cần tiếp tục cải tiến chương trình, phương thức đánh giá kết quả học tập. Các cơ quan nhà nước cũng cần đổi mới mạnh mẽ phương thức, tiêu chí tuyển dụng dựa trên đánh giá năng lực thực chất thay vì chủ yếu dựa trên điểm số và bằng cấp. Các giải pháp đồng bộ này sẽ góp phần giải quyết căn cơ hướng tới giải quyết nhiều vấn đề bức xúc trong thực tiễn và hướng tới học thật, thi thật.
KNVM – Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị ngày 7/2/2026 mang tính bước ngoặt, thể hiện một tư duy quản trị hiện đại, quyết liệt và bám sát thực tiễn.
Dưới đây là một số nhận định chi tiết và sự liên hệ với các yêu cầu lãnh đạo trong kỷ nguyên mới:
Bài phát biểu có nội dung tập trung vào việc xóa bỏ khoảng cách giữa lý luận và thực thi. Thông điệp xuyên suốt là: “Điểm nghẽn không nằm ở đường lối, mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện”. Có thể nhìn nhận 3 quan điểm sau:
Tính quyết liệt và minh bạch: Yêu cầu “Người nào không đáp ứng nhiệm vụ phải biết tự rút lui” là một tuyên bố mạnh mẽ về văn hóa từ chức và trách nhiệm cá nhân. Nó không còn là lời kêu gọi chung chung mà là một yêu cầu hành chính và đạo đức cụ thể.
Chuyển đổi tư duy quản trị: Tổng Bí thư nhấn mạnh việc chuyển từ “mệnh lệnh hành chính” sang “quản trị dựa trên kết quả”. Đây là bước tiến từ quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại, nơi hiệu quả thực tế và sự hài lòng của người dân là thước đo tối thượng.
Tập trung vào “điểm nghẽn”: Bài phát biểu thẳng thắn thừa nhận những hạn chế về nội sinh của nền kinh tế (năng suất, công nghệ, kỷ cương) thay vì chỉ liệt kê thành tích.
Liên hệ với phong cách và yêu cầu lãnh đạo hiện đại
Bài phát biểu này phản ánh chính xác các xu hướng lãnh đạo quốc tế và yêu cầu cấp thiết đối với cán bộ trong bối cảnh hiện nay:
Lãnh đạo dựa trên kết quả (Result-Oriented Leadership)
Lãnh đạo hiện đại không đánh giá qua “báo cáo hay” mà qua “sản phẩm thực”.
Để làm được điều này thì phải định lượng được kết quả.
Tổng Bí thư yêu cầu các mục tiêu phải “đo đếm được” và người dân phải được “thụ hưởng trực tiếp”. Điều này đòi hỏi lãnh đạo phải có kỹ năng thiết kế KPI và khung kiểm soát thực thi chặt chẽ.
Lãnh đạo kiến tạo và thích ứng (Adaptive Leadership)
Trong bối cảnh thế giới biến đổi phức tạp, lãnh đạo không chỉ là người điều hành mà phải là người khai thông nguồn lực.
Do đó cần phải khắc phục tư duy “nặng về quản lý, nhẹ về kiến tạo”.
Bài phát biểu nhấn mạnh việc Quốc hội và Chính phủ phải tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, tháo gỡ rào cản cho đổi mới sáng tạo thay vì tạo thêm thủ tục.
Trách nhiệm giải trình và văn hóa liêm chính (Accountability)
Đây là cốt lõi của thông điệp “tự rút lui”.
Lãnh đạo hiện đại cần sự dũng cảm để nhận trách nhiệm khi không đạt mục tiêu.
Việc phê phán tình trạng “nói nhiều làm ít” và yêu cầu cá nhân không đáp ứng nhiệm vụ phải nhường chỗ cho người có năng lực hơn chính là sự áp dụng tiêu chuẩn đạo đức công vụ cao nhất.
Quản trị dựa trên dữ liệu và công nghệ (Data-driven governance)
Lãnh đạo hiện đại phải sử dụng công nghệ để giám sát và ra quyết định.
Tổng Bí thư yêu cầu đánh giá dựa trên “dữ liệu, chỉ số và hệ thống giám sát thời gian thực”. Điều này đòi hỏi người lãnh đạo hiện đại phải có tư duy chuyển đổi số (digital mindset).
Các yêu cầu đối với đội ngũ lãnh đạo kỷ nguyên mới
Dựa trên tinh thần của bài phát biểu, chân dung người lãnh đạo hiện đại cần hội đủ các yếu tố:
Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm: Phải có bản lĩnh vượt qua sự “an toàn giả tạo” đồng thời dám loại bỏ các nhân tố trì trệ, cản trở phát triển để tạo đột phá.
Tư duy hệ thống và liên ngành: Xóa bỏ tư duy “cục bộ địa phương”, biết phối hợp nguồn lực liên vùng, liên ngành, và đôi khi là liên cấp.
Lấy con người làm trung tâm: Mọi chính sách phải trả lời được câu hỏi: “Nó mang lại lợi ích gì cho dân?”
Kỹ năng thực thi (Execution skills): Không chỉ giỏi tham mưu mà phải giỏi tổ chức, biết tháo gỡ “điểm nghẽn” ngay khi nó xuất hiện.
Khả năng điều hành hệ thống dựa vào dữ liệu và công nghệ: Nếu lãnh đạo truyền thống là người giỏi “điều hành con người”, thì lãnh đạo hiện đại còn phải giỏi điều hành hệ thống dựa trên công nghệ.
Bài phát biểu đã quán triệt và xác lập một “luật chơi” mới cho đội ngũ cán bộ: Năng lực thực tế là tấm vé duy nhất để giữ vị trí lãnh đạo.
Điều này tạo ra động lực tự thân để bộ máy vận hành hiệu quả hơn, đồng thời thực thi các cơ chế sàng lọc những nhân tố trì trệ, giúp quốc gia không bỏ lỡ các thời cơ phát triển.
Quan điểm của Walker về giấc ngủ và giáo dục là chúng ta không thể “ép” não bộ học tập nếu không cung cấp đủ “nhiên liệu” là giấc ngủ. Ông kêu gọi các nhà giáo dục cần nhìn nhận giấc ngủ là một phần của chương trình học chứ không phải là đối thủ của nó. Walker cổ súy việc lùi thời gian bắt đầu học tại trường như cách các trường ở châu Âu đã áp dụng.
Trong cuốn sách Why We Sleep, Matthew Walker dành một chương riêng để phân tích sự xung đột giữa hệ thống giáo dục hiện đại và nhu cầu sinh học của học sinh, sinh viên. Theo ông, hệ thống giáo dục hiện nay đang tạo ra một cuộc “khủng hoảng thiếu ngủ” thầm lặng trong giới trẻ.
Dưới đây là những quan điểm chính của ông về mối quan hệ giữa giấc ngủ và giáo dục:
1. Giấc ngủ là “ngân hàng” lưu trữ kiến thức
Walker ví bộ não giống như một chiếc ổ cứng. Giấc ngủ đóng hai vai trò sống còn đối với việc học:
Trước khi học: Giấc ngủ chuẩn bị cho bộ não khả năng tiếp nhận thông tin mới. Thiếu ngủ khiến các tế bào thần kinh ở vùng hồi hải mã (hippocampus) — nơi lưu trữ ký ức tạm thời – trở nên “đầy tải”, khiến thông tin mới không thể lọt vào.
Sau khi học: Giấc ngủ giúp “đóng băng” các ký ức mới, chuyển chúng từ vùng lưu trữ ngắn hạn dễ mất sang vùng lưu trữ dài hạn an toàn hơn (vỏ não). Nếu bạn học xong mà không ngủ đủ, dữ liệu đó sẽ dễ dàng bị xóa sạch.
2. Sự tàn phá của việc “thức đêm cày cuốc” (Cramming)
Nhiều sinh viên tin rằng thức xuyên đêm trước kỳ thi là cách hiệu quả. Walker bác bỏ điều này bằng số liệu thực nghiệm:
Những người thức đêm có khả năng ghi nhớ thông tin kém hơn 40% so với những người ngủ đủ.
Về mặt sinh học, việc thiếu ngủ làm suy yếu khả năng hình thành các liên kết thần kinh mới (tính dẻo của não).
3. “Trận chiến” với đồng hồ sinh học của thanh thiếu niên
Đây là quan điểm gây tranh cãi nhất nhưng có cơ sở khoa học mạnh mẽ của Walker:
Sự dịch chuyển nhịp sinh học: Thanh thiếu niên có nhịp sinh học bị đẩy lùi muộn hơn so với người lớn. Việc bắt một học sinh cấp 2 hay cấp 3 dậy lúc 6:00 sáng tương đương với việc bắt một người lớn dậy lúc 4:00 sáng.
Hệ quả: Khi đi học quá sớm, não bộ của học sinh vẫn đang ở trạng thái ngủ sâu hoặc ngủ REM. Điều này dẫn đến tình trạng “thây ma” trong các tiết học đầu tiên, làm giảm hiệu suất học tập và gia tăng các vấn đề tâm lý như lo âu, trầm cảm.
4. Đề xuất cải cách: Lùi giờ bắt đầu học
Walker cực lực ủng hộ việc lùi giờ vào lớp muộn hơn (ví dụ từ 7:30 sang 8:30 hoặc 9:00). Ông dẫn chứng các trường học áp dụng điều này đã thấy kết quả tức thì:
Điểm số trung bình (GPA) tăng lên rõ rệt.
Tỷ lệ học sinh đi học muộn và nghỉ học giảm.
Sức khỏe tâm thần cải thiện.
Đặc biệt: Tỷ lệ tai nạn giao thông ở học sinh tự lái xe đến trường giảm tới 70%.
5. Giấc ngủ và sự sáng tạo trong nghiên cứu
Đối với cấp độ giáo dục cao hơn (đại học và sau đại học), Walker nhấn mạnh vai trò của giấc ngủ REM. Đây là giai đoạn não bộ thực hiện “trị liệu tâm lý” và “kết nối tri thức”. Những ý tưởng đột phá thường đến sau một giấc ngủ ngon vì não bộ lúc đó đang xây dựng các liên kết logic mà khi tỉnh táo chúng ta không thấy được.
VnExpress – Hơn 36 năm kinh nghiệm tại môi trường học thuật quốc tế, GS Ngô Bảo Châu cho rằng để xây dựng nội lực khoa học, Việt Nam cần chủ động săn đón và mời gọi nhân tài về nước, kết hợp với đào tạo tại chỗ để nuôi dưỡng nguồn nhân lực từ bên trong.
Dù sống và làm việc tại Mỹ, GS Ngô Bảo Châu – nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới – dành nhiều tâm huyết cho sự phát triển của toán học nói riêng và khoa học nói chung tại Việt Nam. 15 năm qua, ngoài đảm nhiệm vị trí Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), ông tham gia, chủ trì nhiều hội thảo học thuật, xuất bản sách, và đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách phát triển khoa học trong nước.
Trong bối cảnh Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ với VnExpress về các kế hoạch ấp ủ trong tương lai, kinh nghiệm thu hút nhân tài, và mong muốn xây dựng một nền khoa học tầm vóc quốc tế bắt đầu từ đào tạo nghiên cứu sinh trong nước.
GS Ngô Bảo Châu – nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Nuôi dưỡng “tế bào gốc” cho nền khoa học
– Sau khi giành giải thưởng Fields năm 2010, GS được Chính phủ mời về làm Giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), chung tay cùng các nhà khoa học trong nước phát triển nền toán học. Sau 15 năm, ông đánh giá liệu VIASM đã có thể so sánh với một khoa toán mạnh của trường đại học lớn trên thế giới?
– Viện không được thiết kế để tạo ra một khoa toán mạnh, cũng không có kinh phí cho đội ngũ cơ hữu. Mục đích ban đầu khi thành lập VIASM là hỗ trợ các nhà khoa học trong nước và từ đó sẽ tạo ra nhiều khoa Toán mạnh.
Trải qua hơn 15 năm, tôi nghĩ ít nhất giấc mơ của thế hệ đầu tiên xây dựng Viện đã thành hiện thực. Mức độ đầu tư của Nhà nước cho Viện còn khá khiêm tốn, nhưng nhờ cơ chế thông thoáng hơn so với các cơ sở hàn lâm ở Việt Nam, VIASM đã có một số dấu ấn nhất định, được cộng đồng khoa học quốc tế biết đến.
Đa số các nhà khoa học trong trường đại học ở Việt Nam rất thiếu thốn về cơ sở vật chất, không có hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, không có khả năng, kinh phí mời các nhà khoa học quốc tế về cộng tác. Trong 15 năm qua, Viện đã hỗ trợ kết nối các giáo sư quốc tế đến Việt Nam, tạo ra điểm gặp gỡ học thuật cho giới toán học trong và ngoài nước.
Điều quan trọng là VIASM đã tạo dựng được uy tín cao trong cộng đồng nhà khoa học châu Á và thế giới. Viện cũng xây dựng mạng lưới học giả hội tụ (VIASM Convergence Fellows Program), tức các nhà khoa học thành danh ở nước ngoài về Việt Nam làm việc, với vị trí đồng cơ hữu trong một số tháng nhất định và liên tục nhiều năm. Năm 2026 cũng sẽ có 6-7 học giả hội tụ như thế.
Tuy nhiên, đã đến lúc VIASM cần được đầu tư mạnh mẽ hơn, và xây dựng một hướng đi mới để bứt phá. Tôi cũng không thể đảm nhiệm công việc Giám đốc Khoa học của Viện suốt đời, sẽ có lúc cần chuyển giao cho những người trẻ tiếp quản. Thế nên, 2-3 năm nay, tôi và Ban Giám đốc của Viện tích cực chuẩn bị cho thế hệ kế cận, chủ động mời họ tham gia các công việc của Viện.
– Sau nhiều năm làm việc ở Pháp, rồi sang Mỹ, và gần đây có thông tin cho rằng GS sẽ trở về châu Á để bắt đầu sự nghiệp mới. Kế hoạch của ông thế nào?
– Với tôi, cuộc sống giống như một vòng tròn nhưng không quay lại chỗ cũ sau mỗi vòng quay. 18 năm đầu tôi sinh ra và trưởng thành ở Việt Nam, rồi sang Pháp học và làm việc 18 năm, qua Mỹ cũng đã 18 năm, tới giờ trên con đường trở lại châu Á. Trước đây, tôi không có ý định rời Mỹ dù nhận nhiều lời mời, nhưng một năm qua, tôi bắt đầu thay đổi ý định. Tôi sẽ chính thức bắt đầu công việc ở Đại học Hong Kong từ tháng 6/2026.
Lý do đầu tiên là bố mẹ tôi cũng lớn tuổi nên tôi muốn chuyển về gần Việt Nam hơn. Thêm nữa, nhiều năm qua, một việc tôi rất muốn làm, song chưa thể thực hiện vì thiếu thời gian, cơ hội, đó là trực tiếp đào tạo học sinh, sinh viên trong nước.
Ở Mỹ, mỗi năm tôi về Việt Nam nhiều lắm được hai lần, dịp hè khoảng 2-3 tháng, còn mùa đông xuân thì 2-3 tuần. Trong khi, tôi vẫn đảm trách vị trí Giám đốc Khoa học của VIASM, nên khi về nước thường phải xử lý cả các công việc liên quan đến quản lý, rất mất thời gian.
Nếu ở Hong Kong, 1-2 tuần tôi có thể bay về nước một lần. Tôi dự định trực tiếp đào tạo cho học sinh, sinh viên và các nghiên cứu sinh Việt Nam – điều tôi luôn ấp ủ. Ngoài ra, tôi cũng kỳ vọng xây dựng một mạng lưới nghiên cứu Toán ở châu Á, tập hợp các nhà khoa học trong khu vực. Về Hong Kong, tôi có thể hiện thực hóa ước muốn này.
GS Ngô Bảo Châu (áo xanh, ngồi giữa) cùng các nhà khoa học quốc tế tại hội thảo thường niên của VIASM năm 2023. Ảnh: VIASM
– Một nền khoa học mạnh phải đào tạo được những người giỏi, tầm cỡ thế giới. Toán học Việt Nam nhiều năm qua chủ yếu dừng ở mức độ tôn vinh các học sinh đoạt giải Toán quốc tế, còn đội ngũ nghiên cứu tên tuổi khá ít ỏi. Theo GS, làm sao để khắc phục tình trạng này?
– Tôi nghĩ nhiều nhà quản lý cho rằng trong đào tạo cần phải có tự chủ, phải có hạch toán thu chi. Vì thế, các nghiên cứu sinh được nhìn nhận như một nguồn thu tài chính, phải trả học phí. Tư duy đó rất thô sơ.
Trên thế giới, doanh thu của các trường đại học đến từ đào tạo sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu và các khoản tài trợ. Còn nghiên cứu sinh là nơi cần đầu tư, vì đó là những người đang học cách tạo ra tri thức. Đây là công đoạn có thể so sánh với tế bào gốc trong phát triển khoa học, xứng đáng được đầu tư.
Cách đây hơn 5 năm, khi xây dựng Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2021-2030, chúng tôi đã đề nghị Nhà nước có học bổng cho nghiên cứu sinh, nhưng đề nghị này đã bị bác do Nghị định về học bổng không có đối tượng sau đại học.
Vì vậy, tôi rất mừng khi Nghị quyết 57(về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) đề cập đến sự cần thiết có cơ chế, chính sách hấp dẫn thu hút học sinh, sinh viên giỏi trong các lĩnh vực then chốt, nhất là ở trình độ sau đại học. Mới đây, tôi được biết đã có chủ trương miễn học phí và cấp học bổng ngay từ năm nay cho nghiên cứu sinh tại một số đại học trọng điểm (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Bách Khoa Hà Nội – PV). Đây là một hướng đi hoàn toàn đúng, nhưng giá mà điều này được thực hiện từ 5 năm trước!
Tôi hy vọng ngay trong năm 2026, chương trình đào tạo tiến sĩ Toán học xuất sắc phối hợp giữa VIASM và Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ được thông báo và chính thức tuyển sinh. Chương trình đặt mục tiêu đào tạo những tiến sĩ có trình độ tương đương các trường, viện tiên tiến trên thế giới, với sự tham gia của các nhà toán học hàng đầu Việt Nam ở trong và ngoài nước.
Tuyển người giỏi phải chủ động
– Nhiều năm qua, Trung Quốc đã thực hiện quyết liệt chương trình thu hút nhân tài từ các nước trên thế giới với sự trở về của hàng loạt học giả nổi tiếng. Không chỉ trải thảm đỏ mời gọi nhà khoa học xuất thân từ Trung Quốc, họ còn tích cực chiêu mộ các giáo sư quốc tế tiếng tăm. Theo ông, điều gì giúp Trung Quốc thành công trong thu hút nhân tài?
– Những năm qua, Trung Quốc đầu tư rất lớn vào khoa học công nghệ, nhất là các ngành mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI). Trong cuộc trò chuyện tình cờ giữa tôi với một giáo sư người Pháp từ năm 2018, ông cho biết toàn bộ đầu tư của Pháp về AI mấy năm qua chỉ bằng mức đầu tư của một thành phố Trung Quốc trong một năm. Không chỉ Nhà nước, các công ty tư nhân Trung Quốc và nhiều quốc gia khác cũng đầu tư thành lập các viện nghiên cứu về Toán.
Trong khoa học cơ bản, hơn 15 năm nay, Trung Quốc đã chuẩn bị rất bài bản để tích cực thu hút nhà khoa học tên tuổi khắp thế giới. Ví dụ như kế hoạch Ngàn người tài (Thousand Talents Plan – TTP) được khởi xướng từ năm 2008 nhằm chiêu mộ những bộ óc thông minh đang học tập hoặc làm việc tại nước ngoài.
Ban đầu, việc này khá khó khăn vì không phải ai cũng hào hứng, nhất là các nhà khoa học trẻ. Bởi khi đã thành danh ở quốc tế, họ vẫn cần môi trường nghiên cứu lớn như Mỹ để phát triển. Nhưng dần dần, kế hoạch đã thành công rực rỡ.
Bên cạnh việc đưa ra những lợi ích vật chất như lương bổng, tài trợ để thực hiện nghiên cứu, xây dựng các trung tâm khoa học, tôi nhận thấy sự quyết tâm của lãnh đạo từng trường đại học. Với họ, việc chiêu mộ thành công một nhân tài là thành tích lớn của trường và dành nhiều thời gian, trực tiếp tham gia công việc này. Họ không chờ các nhân tài tự ứng cử.
Nhiệm vụ tìm kiếm nhân tài được giao cho hiệu trưởng, và họ hiểu rõ rằng chỉ có thu hút được những người giỏi thì mới có thể xây dựng đội ngũ khoa học chất lượng. Các nhà khoa học hàng đầu được mời về sẽ trở thành thỏi nam châm để thu hút những tên tuổi lớn khác.
Giờ đây, ở những trường lớn như Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, đội ngũ nhà nghiên cứu trẻ không thua kém gì các đại học lớn nhất Mỹ, với số lượng áp đảo hơn. Nghiên cứu khoa học về Toán của Trung Quốc thay đổi rõ rệt trong 5 năm gần đây. Và quan trọng, kế hoạch thu hút nhân tài của họ chưa dừng lại, mà ngày càng quyết liệt hơn.
– Từ kinh nghiệm cá nhân, theo ông làm thế nào thu hút người tài?
– Tôi giữ vị trí Trưởng khoa Toán ở Đại học Chicago (Mỹ) gần ba năm nay, vì thế cũng đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm trong việc tuyển mộ người tài.
Để tuyển được một nhà khoa học giỏi rất khó vì tỷ lệ cạnh tranh rất cao. Họ luôn có sẵn 3 – 4 trường đại học lớn mời chào. Mỗi trường có một gói đề xuất khác nhau về tài chính, bao gồm lương và quỹ hoạt động khoa học, họ được toàn quyền sử dụng, không phải hỏi ý kiến. Đó là lợi ích về vật chất, bắt buộc phải cạnh tranh.
Khi các quyền lợi vật chất là như nhau, thì người ta sẽ xét những yếu tố khác quan trọng không kém, như cơ hội phát triển khoa học, có nghiên cứu sinh giỏi, có sinh viên giỏi. Ở Đại học Chicago, chúng tôi có không khí khoa học sôi nổi, thường mời các nhà khoa học hàng đầu đến trao đổi. Bên cạnh chỗ dựa tài chính vững chắc, điểm khác biệt là tạo được môi trường mà ở đó nhà khoa học được thực hiện đúng thiên chức của mình, đó là tìm ra tri thức mới và đào tạo các nhà khoa học tương lai.
Khi lựa chọn về Hong Kong, dù hiểu rằng môi trường khoa học chưa bằng các đại học lớn ở Mỹ, nhưng tôi chấp nhận đánh đổi. Tôi nghĩ ở tuổi mình thì phải tự tạo ra không khí đó, chứ không chỉ thụ hưởng.
GS Ngô Bảo Châu chia sẻ tại Hội thảo kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế (1974-2024). Ảnh: VIASM
– Không chỉ muốn thu hút nhân tài, Việt Nam cũng mong muốn có các nghiên cứu khoa học tầm cỡ thế giới. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để đạt mục tiêu này?
– Về cơ bản, cách đánh giá chất lượng công trình khoa học hiện nay tại Việt Nam chủ yếu dựa vào các chỉ số như số lượng công bố nằm trong một bảng xếp hạng quốc tế. Những chỉ số đó chỉ cho phép đánh giá xem mình ở vị trí trên trung bình hay không. Vì thế, nếu chúng ta theo đuổi các chỉ số này, sẽ không bao giờ vươn lên vị trí dẫn đầu.
Tôi nghĩ không nên đặt trọng tâm vào các con số, mà phải thay bằng các cách thức khác, thực ra lại dễ kiểm chứng hơn.
Nếu muốn đánh giá một nền khoa học có đủ tầm quốc tế, chúng ta hãy xem những nghiên cứu sinh mà họ đào tạo có đủ khả năng cạnh tranh quốc tế hay không.
Với đội ngũ giảng viên, hiện nhiều trường còn chưa đủ giáo sư cơ hữu. Do đó, chúng ta nên xây dựng cơ chế bán thời gian, đưa nhà khoa học nước ngoài về nước. Điểm mấu chốt là phải đào tạo ở Việt Nam, chứ không chỉ gửi ra nước ngoài. Chúng ta cần xây dựng nội lực từ trong nước.
Đại học muốn có nghiên cứu sinh giỏi cần đầu vào là sinh viên giỏi, và để có sinh viên giỏi cần chuẩn bị từ lớp dưới. Lứa học sinh chuyên toán có rất nhiều em giỏi, năng lực giải toán ấn tượng, nhưng đa số không được tiếp xúc với toán cao cấp hay nghiên cứu về toán. Do đó, thời gian tới, tôi muốn tổ chức các khóa học/seminar định kỳ, mục tiêu để các em sinh viên, học sinh làm quen với nghiên cứu toán cơ bản. Đó chính là nhóm nghiên cứu sinh tương lai sau này.
– Việt Nam đặt mục tiêu trở thành cường quốc khoa học công nghệ, nhất là về trí tuệ nhân tạo (AI). Tổng Bí thư Tô Lâm cũng từng nhấn mạnh phải quan tâm đến khoa học cơ bản, và đặc biệt là toán học lý thuyết thì mới có được AI, công nghệ sinh học, lượng tử… Theo Giáo sư, toán học có thể đóng góp vào mục tiêu này thế nào?
– Bối cảnh hiện nay chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của AI. Các trường đại học trên thế giới đều có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Mức độ đầu tư vào AI ngày càng khủng khiếp. Dẫu phát triển nhanh chóng, nó vẫn còn rất nhiều ẩn số, nhất là độ tin cậy.
Các công ty AI hiện đang đầu tư vào toán học với chi phí khổng lồ. Hiệu quả được đánh giá thông qua việc AI có thể giải toán được hay không. Việc tạo ra các thuật toán để giải quyết các bài toán mở là thước đo rất quan trọng để xác định mức độ tinh xảo, rủi ro, khả năng suy luận của AI.
Tôi nghĩ rằng, với sự phát triển của AI như bây giờ, nếu không đầu tư mạnh mẽ vào các môn khoa học về toán (Mathematical Sciences) chắc chắn chúng ta sẽ bị tụt hậu. Đó là vấn đề cấp thiết cho tương lai của bất kỳ nước nào, không chỉ riêng Việt Nam.
Với Việt Nam, tôi thấy sự chuyển mình rất mạnh mẽ những năm gần đây. Đặc biệt, giới khoa học rất phấn khởi với Nghị quyết 57. Bản thân tôi cũng rất vui và cho rằng đây là hướng đi đúng đắn và chúng ta không có lựa chọn nào khác. Tôi hy vọng rằng những chính sách này sẽ sớm được triển khai, hiện thực hóa.
(Chinhphu.vn) – Chào 2026 – năm khởi đầu của một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của một dân tộc anh hùng. Cả nước đã cùng nhau vượt qua bao khó khăn thách thức của năm 2025 để cùng bước vào năm mới 2026 với bao điều tốt đẹp và một niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng đang ở phía trước.
Năm 2025 khép lại với vai trò của một năm chuẩn bị quan trọng về tư duy phát triển, về thể chế, về các định hướng chiến lược lớn. Bước sang 2026, Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển từ chuẩn bị sang triển khai, từ hoạch định sang tổ chức thực hiện. Những quyết sách lớn được xác lập tại Đại hội XIV sẽ trở thành nền tảng để toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội bước vào chặng đường hành động mới, với mục tiêu nâng cao chất lượng phát triển và năng lực cạnh tranh quốc gia, quốc gia hùng cường và thịnh vượng, người dân ấm no hạnh phúc hơn.
Chính trong bối cảnh đó, 2026 có thể được nhìn nhận như năm khai mở kỷ nguyên vươn mình – kỷ nguyên bắt đầu bằng việc xác lập tầm nhìn nhiệm kỳ mới, và được hiện thực hóa bằng những chuyển động cải cách thực chất ngay từ những ngày tháng đầu tiên.
Vươn mình không phải là một cố gắng mang tính thời điểm. Đó là tâm thế, trạng thái phát triển của một quốc gia khi đã tích lũy đủ nền tảng, đủ trải nghiệm và đủ bản lĩnh để chuyển từ “đi nhanh” sang “đi xa”, từ thích ứng với hoàn cảnh sang chủ động kiến tạo tương lai. Sau gần bốn thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước thời cơ và vận hội mới.
2026 trước hết là năm khai mở về tư duy phát triển. Tư duy ấy được thể hiện ở sự dịch chuyển rõ nét từ quản lý sang kiến tạo, từ điều hành nặng về mệnh lệnh sang điều hành dựa trên luật lệ, dữ liệu và hiệu quả. Phát triển không còn được hiểu chủ yếu là mở rộng quy mô, mà là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức bền của nền kinh tế. Đi nhanh vẫn quan trọng, nhưng đi vững, đi bền và đi đúng hướng mới là điều quyết định trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt – phát triển nhanh nhưng phải bền vững, tăng trưởng cao nhưng phải đi cùng ổn định, tiến bộ và công bằng xã hội.
2026 đồng thời là năm khai mở những động lực phát triển mới. Những động lực ấy không đến từ một yếu tố đơn lẻ, mà từ sự cộng hưởng của nhiều trụ cột. Đó là một thể chế tiếp tục được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định, lấy hiệu quả và phục vụ phát triển làm thước đo. Đó là khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành năng lực nền tảng của nền kinh tế, chứ không chỉ là lĩnh vực hỗ trợ.
Cùng với đó là vai trò ngày càng rõ nét của khu vực kinh tế tư nhân, của đội ngũ doanh nhân, trí thức, người lao động sáng tạo- những chủ thể trực tiếp tạo ra của cải vật chất, việc làm và sức sống cho nền kinh tế. Khi các rào cản được tháo gỡ, khi môi trường kinh doanh trở nên minh bạch, công bằng hơn và có thể dự đoán, những nguồn lực đang tiềm ẩn, chưa được phát huy hết trong xã hội sẽ được khơi thông mạnh mẽ hơn, bất kỳ ai có mong muốn, đều có cơ hội để làm giàu, đóng góp vào phát triển đất nước.
Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục củng cố những định hướng lớn ấy, tạo ra khuôn khổ chính sách và niềm tin cần thiết để các động lực mới phát huy hiệu quả ngay từ những năm đầu nhiệm kỳ.
Người dân hân hoan chào đón năm mới 2026 – Ảnh: TTXVN
2026 là năm khai mở về niềm tin xã hội. Không có kỷ nguyên phát triển nào có thể hình thành nếu thiếu niềm tin. Niềm tin của người dân vào sự nhất quán, công bằng và hiệu lực của chính sách. Niềm tin của doanh nghiệp vào một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và được bảo vệ bằng pháp luật. Niềm tin của xã hội rằng nỗ lực chân chính sẽ được ghi nhận, sáng tạo sẽ được khuyến khích và cống hiến sẽ được trân trọng.
Chào đón năm 2026, chúng ta cũng ý thức rõ rằng con đường phía trước không chỉ có thuận lợi. Thế giới đang biến động nhanh chóng, khó lường; cạnh tranh chiến lược gia tăng; các thách thức về kinh tế, môi trường và an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp. Nhưng chính trong bối cảnh đó, bản lĩnh của một quốc gia càng được tôi luyện và khẳng định.
Chào 2026 – năm khai mở kỷ nguyên vươn mình của đất nước! Năm 2026 mở ra không chỉ như một mốc thời gian mới, mà như một lời cam kết với tương lai: Cam kết biến những định hướng lớn của nhiệm kỳ mới thành hành động cụ thể, biến khát vọng phát triển thành kết quả có thể đo đếm trong đời sống của nhân dân. Một kỷ nguyên vươn mình được tạo nên bằng sự bền bỉ của cải cách, sự chính trực của điều hành và sự đồng lòng của toàn xã hội.
Lịch sử không hỏi chúng ta đã ước mơ điều gì, mà hỏi chúng ta đã dám làm gì để đạt cho được ước mơ ấy.
Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 22/8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW). Sau đây là tổng hợp các mục tiêu và giải pháp trọng tâm về giáo dục đại họcViệt Nam được nêu trong Nghị quyết 71-NQ/TW:
🎯 Mục tiêu về giáo dục đại học:
Đến năm 2030
Sắp xếp và nâng cấp mạng lưới cơ sở GDĐH và GD nghề nghiệp;
100% cơ sở GDĐH và ít nhất 80% cơ sở GD nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia.
20% cơ sở đạt trình độ hiện đại tương đương các nước phát triển châu Á.
Tỷ lệ thanh niên theo học sau trung học phổ thông đạt 50%, trong đó 24% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.
Tỷ lệ SV theo học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ ≥ 35%.
Ít nhất 6.000 NCS, 20.000 SV theo chương trình tài năng.
Nâng tầm đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp quốc gia và vùng.
Thu hút ít nhất 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài.
Tăng 12%/năm công bố khoa học quốc tế; 16%/năm số sáng chế.
Có ≥ 8 trường đại học vào top 200 châu Á, ≥ 1 trường vào top 100 thế giới theo lĩnh vực.
Đến năm 2035
Hệ thống GDĐH hiện đại, chất lượng, công bằng.
2 cơ sở GDĐH lọt top 100 thế giới trong một số lĩnh vực.
Tầm nhìn 2045
Việt Nam có hệ thống GDĐH hiện đại, công bằng, chất lượng, thuộc top 20 quốc gia hàng đầu thế giới.
Có ít nhất 5 trường đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới (theo lĩnh vực).
GDĐH là động lực cung cấp nhân lực, nhân tài KH-CN cho đất nước phát triển, thu nhập cao.
🛠 Giải pháp trọng tâm về giáo dục đại học
Hoàn thiện thể chế và quản trị đại học
Sắp xếp, tái cấu trúc mạng lưới cơ sở GDĐH; giải thể, sáp nhập trường không đạt chuẩn.
Xóa bỏ cấp trung gian; nghiên cứu sáp nhập viện nghiên cứu vào ĐH.
Tăng quyền tự chủ toàn diện cho ĐH (nhân sự, tài chính, tuyển dụng GS/PGS…).
Đổi mới cơ chế tài chính: phân bổ NSNN dựa trên sứ mạng, chất lượng, hiệu quả; dành ≥ 3% NSNN cho GDĐH.
Đầu tư trọng điểm
Hiện đại hóa hạ tầng, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu tại các trường trọng điểm.
Phát triển 3–5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế.
Khuyến khích phát triển các khu đô thị công nghệ cao – đại học, mô hình đại học đổi mới sáng tạo.
Phát triển đội ngũ giảng viên và nhân lực nghiên cứu
Tăng cường bồi dưỡng, hỗ trợ giảng viên học tập nâng cao trong và ngoài nước.
Chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút giảng viên, nhà khoa học quốc tế.
Thực hiện chế độ giảng viên đồng cơ hữu, huy động người giỏi tham gia giảng dạy và nghiên cứu.
Đổi mới chương trình và phương thức đào tạo
Chuẩn hóa theo chuẩn quốc tế; tích hợp kiến thức AI, phân tích dữ liệu, khởi nghiệp.
Gắn đào tạo sau đại học với nghiên cứu KH-CN và đổi mới sáng tạo.
Đổi mới tuyển sinh theo hướng đánh giá năng lực, kiểm soát chuẩn đầu vào, đầu ra.
Thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo & khởi nghiệp
Gắn kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp.
Hỗ trợ giảng viên, sinh viên triển khai startup, spin-off, dự án đổi mới sáng tạo.
Hội nhập quốc tế sâu rộng
Hợp tác liên kết với các đại học uy tín, doanh nghiệp lớn quốc tế.
Thu hút đầu tư nước ngoài vào GDĐH.
Khuyến khích các ĐH Việt Nam mở phân hiệu, văn phòng đại diện ở nước ngoài.
Đẩy mạnh hợp tác đào tạo xuyên biên giới, giáo dục số.
👉 Tóm lại, giáo dục đại học được xác định là nòng cốt để phát triển nhân lực trình độ cao, dẫn dắt nghiên cứu – đổi mới sáng tạo, với mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm top 20 quốc gia hàng đầu thế giới về giáo dục vào năm 2045.
GDVN – Trong các nguồn lực cần đầu tư cho giáo dục và đào tạo thì nguồn lực tài chính rất quan trọng và vẫn là chính yếu.
Để có hệ thống đại học của quốc gia lớn mạnh, dẫn dắt đất nước phát triển thì chắc chắn chúng ta phải có đội ngũ nhà giáo tốt – yếu tố chủ chốt đi cùng với hạ tầng, cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại…
Và tất nhiên có được những thứ đó chúng ta cần phải đầu tư thực sự, chứ không phải “tiết giảm chi tiêu” và “kêu gọi đóng góp” từ xã hội.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”.
Trong bối cảnh cách mạng công nghệ, muốn phát triển đất nước hùng cường, nhất định phải cần nguồn nhân lực đủ mạnh. Trong khi muốn có nguồn nhân lực chất lượng tốt chắc chắn phải có hệ thống trường đại học của đất nước thực sự mạnh.
Chúng ta không thể trông cậy vào việc nhờ các đại học hàng đầu thế giới giúp chúng ta đào tạo nguồn nhân lực chất lượng tốt để phát triển đất nước hùng cường.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Ngược lại, nếu chúng ta vẫn quan niệm không cần đầu tư đại học trong nước mà chỉ cần gửi người đi học ở các nước để phát triển nguồn lực thì trong bối cảnh cạnh tranh nguồn lực như hiện nay, chúng ta sẽ mất nhiều hơn được.
Để có hệ thống đại học của quốc gia lớn mạnh, dẫn dắt đất nước phát triển thì chắc chắn chúng ta phải có đội ngũ nhà giáo tốt – yếu tố chủ chốt đi cùng với hạ tầng, cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại…
Và tất nhiên có được những thứ đó chúng ta cần phải đầu tư thực sự, chứ không phải “tiết giảm chi tiêu” và “kêu gọi đóng góp” từ xã hội.
Trong các nguồn lực cần đầu tư cho giáo dục và đào tạo thì nguồn lực tài chính rất quan trọng và vẫn là chính yếu. Thế nhưng, trong thực tế vẫn còn rất nhiều thứ khó gỡ cho câu chuyện tài chính.
Câu chuyện tài chính của giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Hiện nay, giáo dục đại học Việt Nam có 2 loại hình chính, đó là công lập và ngoài công lập. Ngoài công lập cũng được phân chia thành các mô hình khác nhau, nhưng cơ bản vẫn hoạt động như một doanh nghiệp, đóng góp nguồn thu cho ngân sách và nguồn lực xã hội cũng rất đáng kể.
Tuy nhiên, nếu để đầu tư vào một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hay một số lĩnh vực công nghệ đặc thù mà có số người theo học ít trong khi chi phí đầu tư cao, thì rất khó có trường ngoài công lập nào theo đuổi.
Thông thường, trường ngoài công lập chỉ đầu tư đào tạo các ngành có số người theo học nhiều và ít phải đầu tư hơn.
Hệ thống đại học công lập hiện nay không còn “bao cấp” như trước đây (trừ khối trường công an, quân đội).
Các trường đại học công lập, ngoài đất đai, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư trước và một số có một phần chi thường xuyên, còn lại các trường phải lo tìm nguồn thu để đầu tư cho con người và đầu tư phát triển.
Và như thế cuộc chạy đua, cạnh tranh trong thị trường giáo dục dù chưa được đề cập một cách cụ thể, nhưng không thể nói là hoàn toàn được kiểm soát, ngược lại đâu đó vẫn ẩn chứa nhiều điều thiếu bền vững.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Nguồn lực xã hội được cho là có thể huy động cho đại học bao gồm: học phí, tài trợ (trong nước và quốc tế), các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hoặc đầu tư khác.
Từ nhiều năm nay, mỗi khi nói đến xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn thu cho giáo dục đại học, người ngoài có thể kể ra rất nhiều thứ có thể thu, nhưng người trong cuộc cũng kể ra hàng tá thứ khó, không dám làm. Và sự thật là như vậy. Kể cả về lí thuyết các trường công lập được quyền vay tín dụng để đầu tư phát triển, nhưng thực tế cũng không dễ.
Tương tự như vậy, nhận tài trợ từ nước ngoài, trường đại học chỉ là bên nhận, thậm chí là không hoàn lại và không phải đối ứng, nhưng cũng không dễ. Cho dù khoản tài trợ nhỏ, nhưng thủ tục cũng rất dài dòng và thật sự là rất khó sử dụng.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Mặt khác, khai thác đất, công trình của nhà trường để cung cấp các dịch vụ trong trường cho dù tự chủ hay chưa tự chủ cũng phải thủ tục xin phép…
Nhiều cái khó cho bản thân các trường đại học, nhưng khi đề cập vấn đề với cơ quan quản lí thì họ cũng nêu nhiều lí do khó vì cơ chế, vì quy định liên quan. Bởi tất cả cũng vì một mục tiêu là cần làm đúng quy định!
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các đại học ở các nước phát triển có xu hướng xâm nhập và cạnh tranh với các đại học trong nước, xu hướng sính ngoại của một bộ phận người Việt trong xã hội cũng là một thách thức và nhiều rủi ro cho giáo dục đại học nước nhà.
Nhìn chung, trong nền kinh tế thị trường hoàn hảo và cạnh tranh lành mạnh thường thúc đẩy sự phát triển, nhưng với lĩnh vực giáo dục và đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh thiếu lành mạnh thì rủi ro sẽ là vô cùng to lớn.
Các trường đại học đã nỗ lực, nhưng kết quả chưa đạt như kỳ vọng
Ở khía cạnh quản lí nhà nước, một số người cho rằng các đại học chưa thay đổi tư duy, chưa chủ động để tự chủ, đổi mới… Do vậy cần phải có cạnh tranh và nhất là cạnh tranh với các đại học nước ngoài mới hi vọng đổi mới.
Có vẻ như suy nghĩ như vậy một mặt không sai với một số ít trường nhưng ở diện rộng, trên toàn hệ thống thì là một vấn đề rất đáng phải quan tâm.
Nhìn kĩ lại, với cơ chế quản lí nhà nước như hiện nay không dễ gì các đại học vươn ra để phát triển, cạnh tranh với các trường đại học quốc tế trong khi nguồn tài chính quá hạn chế và bị gò bó bởi rất nhiều quy định.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Tự chủ đại học mới hình thành, mô hình quản trị cũng chưa thực sự rõ ràng, trong khi nguồn ngân sách từ nhà nước đã cắt giảm…
Và nếu chỉ trông chờ vào học phí thì không dễ gì phát triển, trong khi hiện nay, xã hội cũng chưa “chấp nhận trả” học phí cao cho giáo dục đại học trong nước tương tự như chi trả cho du học.
Mặt khác, đại học ngoài công lập nghĩ rằng bản thân họ bị đối xử không công bằng, trong khi trường công có đất, có cơ sở hạ tầng….
Trường công lập thì nghĩ cạnh tranh tuyển sinh, tự do xác định mức học phí và đầu tư mua sắm, tự quyết các chính sách thu hút nguồn nhân lực… là lợi thế cho các trường tư thục.
Nói chung, ai cũng nghĩ người khác thuận lợi hơn mình, nhưng nếu phân tích kĩ ra thì cũng chẳng ai hoàn toàn thuận lợi cả.
Có thể cái khó chung của các đại học công lập và ngoài công lập là mọi nỗ lực để phát triển vẫn luẩn quẩn huy động tài chính từ nguồn thu học phí.
Thật ra, vì còn nhiều lí do khác nhau, doanh nghiệp chưa sẵn sàng đầu tư hay tài trợ cho các trường đại học.
Ngược lại khi sử dụng lao động sản phẩm từ trường đại học thường thì họ đòi hỏi cao ở chất lượng đầu ra và than phiền vì các trường chưa đáp ứng yêu cầu đầu ra có thể sử dụng ngay mà phải đào tạo lại?
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Trong khi một số các doanh nghiệp lớn mạnh thì xu hướng xin được tự đầu tư mở trường riêng, thay vì đầu tư hay tài trợ vào các trường đại học đã lớn mạnh, để cùng nghiên cứu và đào tạo nguồn lực để sử dụng.
Nhận thức về giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đâu đó vẫn còn nhầm lẫn trong xã hội và thậm chí là ngay cả trong những người tham gia làm giáo dục và quản lí giáo dục. Chính vì vấn đề đó mà chưa có sự tham gia để cùng kiến tạo phát triển một cách bài bản xuyên suốt.
Cho dù còn nhiều điểm rất khác nhau, nhưng điểm chung nhất đều nhận thức rõ ràng rằng, nguồn nhân lực để phát triển đất nước là rất quan trọng; vai trò của trường đại học đối với sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là rất lớn và để các trường đại học phát triển và đóng góp cho sự phát triển đất nước thì đầu tư tài chính là rất cần thiết.
Xoay quanh vấn đề đó, gần đây nhiều diễn giả nêu quan điểm về nền kinh tế chia sẻ và vai trò của các bên đối với đầu tư cho giáo dục đại học rất cần phải được thúc đẩy. Về nguyên tắc là vậy, nhưng để hiện thực hóa thì cần phải luật hóa và định hướng phát triển văn hóa chia sẻ.
Sứ mệnh của trường đại học và bài toán tài chính
Hiện nay, trường đại học của chúng ta đã có nhiều cấp quản lí và nhiều kiểu khác nhau. Có trường thuộc địa phương quản lí; có trường do bộ, ngành quản lí; có trường do gia đình đầu tư, có trường do doanh nghiệp thành lập…
Người sử dụng lao động khen chê khác nhau vì nhu cầu sử dụng nhân sự khác nhau và nhận thức về bằng cấp, tay nghề khác nhau…
Dù tên gọi thế nào thì nếu xác định giáo dục đại học từ sứ mệnh của đại học và tập trung đầu tư để phát triển đảm bảo duy trì được sứ mệnh đó thì chắc chắn hình thành nên các đại học mạnh.
Tất nhiên, bản thân trường đại học nếu đủ lực về tài chính và kiên định mục tiêu, sứ mệnh là rất cần, nhưng điều kiện đủ để thành công vẫn phải cần cả hệ thống chính trị và toàn xã hội hiểu đúng mới kiên trì thực hiện được.
Sứ mệnh của trường đại học trước tiên phải (1) sáng tạo tri thức (tức nghiên cứu khoa học là hàng đầu), tiếp đến là (2) truyền bá tri thức (tức giảng dạy, bồi dưỡng…) và thứ ba là (3) phục vụ cộng đồng, xã hội.
Nếu kiểm đếm một cách thật kĩ lưỡng thì vẫn có trường chưa đầu tư cho nghiên cứu đúng nghĩa mà chủ yếu là tuyển sinh giảng dạy, thậm chí gửi cho doanh nghiệp đào tạo, huấn luyện là chủ yếu. Thực chất đó chính là giáo dục nghề nghiệp không phải là giáo dục đại học.
Cũng có trường đầu tư nghiên cứu chỉ để công bố, để tăng thứ hạng thành tích, chứ việc nghiên cứu và giảng dạy, phục vụ cộng đồng không nhiều.
Mỗi khi kiến thiết mô hình trường đại học bài bản từ triết lí nền tảng thì xã hội mới tin tưởng vào chất lượng và quyết định đầu tư hay tài trợ. Trong trường hợp cơ chế kiểm soát chưa tốt và chưa minh bạch thì rất khó cho tất cả.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Nếu trường đại học kiến tạo sự phát triển dựa trên nền tảng khoa học và kiên định sứ mệnh; đồng thời nguồn lực xã hội đầu tư, tài trợ vào đại học được xác định là đầu tư cho nghiên cứu, cho các hoạt động khoa học, để thu về tri thức khoa học và công nghệ thì đó là thực sự là mô hình tốt đẹp cho phát triển đại học đúng từ bản chất.
Mỗi khi các nguồn đầu tư, tài trợ cho khoa học được duy trì tốt thì đời sống của giảng viên được đảm bảo, năng lực của giảng viên được nâng cao.
Và khi năng lực giảng viên tốt thì đào tạo sinh viên cũng chất lượng tốt. Người học có năng lực tốt thì xã hội cũng được hưởng lợi, đồng thời thúc đẩy mọi lĩnh vực phát triển.
Dù có thế nào đi nữa, nguồn đầu tư hay tài trợ chính cho nghiên cứu khoa học ở các trường đại học vẫn cần từ ngân sách nhà nước.
Với một xã hội phát triển, người dân đóng thuế và theo dõi nguồn chi ngân sách thì việc chi đúng và quản lí hợp lí nguồn chi cho giáo dục và khoa học dễ tạo sự đồng thuận cao.
Bởi lẽ, giáo dục và khoa học luôn trực tiếp hoặc gián tiếp có tác động tích cực đến người dân; rất cần thiết vì lợi ích công thiết thực như thông qua các hoạt động đó sẽ tác động đến chất lượng chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo an ninh, an toàn…
Ngoài ra, nếu có cơ chế, chính sách xã hội tốt, các doanh nghiệp cũng sẽ tham gia đầu tư hoặc tài trợ cho khoa học.
Một đất nước có nền kinh tế phát triển và cạnh tranh lành mạnh, doanh nghiệp cần ý tưởng sáng tạo và công nghệ để phát triển.
Việc đầu tư, tài trợ cho đại học cũng vì lợi ích cho chính doanh nghiệp chứ không chỉ là nghĩa vụ, nghĩa hiệp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn có thể đầu tư mạo hiểm cho các nhà khoa học để nghiên cứu các công trình vĩ đại hoặc đầu tư sáng chế các sản phẩm, công nghệ mới tốt hơn, có giá trị to lớn.
Hơn nữa, các tổ chức từ thiện cũng là bên liên quan, có thể hỗ trợ, tài trợ cho các đại học thực thi sứ mệnh cao cả. Có thể nói, xã hội lúc nào cũng có rất nhiều vấn đề phát sinh và có cả các đối tượng dễ bị tổn thương.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Dịch bệnh, thiên tai, bệnh hiểm nghèo, dị tật… là những vấn đề thời nào cũng có. Các nhà từ thiện, các tổ chức thiện nguyện có thể thực hiện các chiến dịch quyên góp kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau thay vì phân phát từ thiện, thì họ tài trợ cho các công trình nghiên cứu để tìm ra các phương thuốc, công nghệ, giải pháp mới hữu ích để quay trở lại cứu giúp những đối tượng khó khăn cũng như giải quyết từ gốc các vấn đề phát sinh, bất trắc.
Mỗi khi các trường đại học nhận được tài trợ, viện trợ đa dạng, phong phú thì áp lực tài chính sẽ giảm; giảng viên tập trung nghiên cứu và đào tạo; sản phẩm nghiên cứu phục vụ cho xã hội, cộng đồng; người học là sản phẩm chính cũng được trang bị kĩ lưỡng về tri thức, phát triển năng lực cũng như cảm nhận được trách nhiệm và hình thành nhân cách tốt hơn.
Tài trợ cho khoa học thông qua đại học là cách tốt nhất thúc đẩy phát triển theo chiều sâu. Ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển, để phát triển hơn và vượt tầm cần phải có những thí nghiệm, thử nghiệm lớn…
Nếu những nhà khoa học không được tài trợ kinh phí để thiết kế nghiên cứu cũng như cống hiến thì rất khó có thể tự thân giải quyết các vấn đề hóc búa tạo nên những sản phẩm giá trị.
Các trường đại học nếu chỉ dựa vào học phí của người học để đầu tư phát triển thì chỉ là nhỏ lẻ, chỉ đủ để chứng minh cho người học những thí nghiệm có tính nguyên lí, lí thuyết có sẵn, không thể cùng nghiên cứu và cùng học tập đúng nghĩa như sứ mệnh của đại học.
Những gương điển hình, mẫu mực của khoa học trước đây là những người dấn thân, đam mê, hiến dâng tất cả cho nghiên cứu khoa học; sống trong khổ cực, cơ hàn hi vọng tìm thấy vinh quang từ những việc làm có ích.
Ngày nay, chúng ta không nên và cũng không thể đòi hỏi hay yêu cầu nhà khoa học cũng phải như vậy.
Để có những nghiên cứu tốt, vượt tầm, người làm khoa học và đào tạo người làm khoa học cũng cần phải có cuộc sống tốt, không phải lo lương tháng, lương tuần hay trông chờ các nguồn thưởng bài báo được công bố.
Điều tốt nhất là để họ tự hào vì những công trình của họ có đóng góp như thế nào với học thuật hàn lâm, với những ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực…
Khi nhà khoa học cảm thấy hạnh phúc, năng lượng tích cực sẽ lan tỏa vào giới trẻ, len lỏi vào ý thức của cộng đồng, giúp xã hội trân quý khoa học và ít mù quáng hơn.
Trong thực tế, kết quả của nghiên cứu khoa học thường có tác động lớn, giống như đòn bẩy thúc đẩy phát triển xã hội vượt trội, đồng thời cũng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương thông qua sự chia sẻ, trao đổi từ các hội thảo, hội nghị và các chuyến khảo cứu, trưng bày, triển lãm…
Nếu có những nguồn tài chính đầu tư dài hạn, các nhà nghiên cứu sẽ theo đuổi những ý tưởng khoa học, tự khám phá và tìm kiếm các giải pháp ứng dụng một cách hiệu quả.
Và như vậy, ý tưởng sáng tạo không bị đứt gãy hay bị dừng lại nửa chừng mà có thể kết nối phát triển thành những chuỗi giá trị rất ý nghĩa.
Giải pháp cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
Trước hết, những người làm chính sách cần đầu tư nghiên cứu nhằm xây dựng thể chế đủ mạnh để thúc đẩy nền giáo dục đại học Việt Nam và xem đây chính là chiến lược đột phá như tinh thần của văn kiện Đại hội XIII.
Thực sự chúng ta rất cần hành lang pháp lí thật vững chắc từ các luật như: Luật Khoa học Công nghệ, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Nhà giáo, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư…
Xác định rõ chức nghiệp của giảng viên đại học và trách nhiệm của các trường đại học. Dù công lập hay ngoài công lập khi đã là đại học thì phải đảm bảo là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đã là giảng viên thì phải thực thi chức nghiệp với sứ mệnh một nhà khoa học thực sự và phải có ý thức truyền bá tri thức cũng như phục vụ cộng đồng xã hội một cách dấn thân và phải được Nhà nước tôn vinh, có chế độ hợp lí để đảm bảo sống tốt.
Đặc biệt phải thống nhất quan điểm rằng, giáo dục đại học không bao giờ được xác định là thị trường để đầu tư sinh lời.
Thứ hai, cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2022-2030; đặc biệt là rất cần và nhất thiết phải xây dựng một chiến lược phát triển nhân tài quốc gia.
Đây là cơ sở quan trọng để sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, hình thành các đại học quốc gia, đại học trọng điểm; tập trung nguồn lực đầu tư trọng tâm từ ngân sách với các chương trình dự án trọng tâm vì mục tiêu phát triển nhân tài cho một giai đoạn dài ở tương lai.
Thứ ba, đầu tư công và cơ chế đặt hàng từ Nhà nước đối với các đại học phải được Chính phủ xác định rõ ràng và cần có cơ chế giám sát từ Quốc hội.
Cần có cơ cấu tài chính phù hợp đối với đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục đại học; xác định rõ tỉ lệ ngân sách đủ lớn cho giáo dục đại học để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài.
Thứ tư, lĩnh vực sáng chế và sáng tạo cần được khuyến khích và ưu tiên giảm thuế cho doanh nghiệp có đầu tư và sử dụng kết quả từ các công trình phát minh, sáng chế; thúc đẩy khởi nghiệp từ đổi mới sáng tạo.
Cần nhấn mạnh đến các hoạt động đầu tư và tài trợ cho nghiên cứu ở các trường đại học, nhất là các nghiên cứu có tính ứng dụng, phát triển công nghệ, giải pháp mới.
Khi có chính sách cụ thể sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp có trách nhiệm với sự phát triển các đại học. Đồng thời có chính sách hạn chế, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, kinh doanh sử dụng công nghệ lạc hậu…
Mỗi khi chúng quyết tâm như vậy thì mới thúc đẩy phát triển đại học và cũng như thúc đẩy phát triển xã hội lành mạnh hơn, hàm lượng tri thức kết tinh trong hàng hóa, sản phẩm cũng sẽ cao hơn, xã hội phát triển văn minh, hiện đại hơn.
Thứ năm, cần xem đại học như nhà cung ứng dịch vụ đặc biệt và nhà sản xuất hàng hóa đặc biệt, khi đó những người sử dụng dịch vụ và hàng hóa đặc biệt có trách nhiệm chi trả với giá cả đặc biệt tương ứng với giá trị của hàng hóa và dịch vụ.
Đồng thời chính các trường đại học cũng phải có trách nhiệm với chính sản phẩm, dịch vụ cũng như có trách nhiệm “bảo trì”, “bảo hành”…
Thứ sáu, Nhà nước cũng cần phải có chính sách tín dụng cho người dân vay đầu tư học tập ở đại học với mức vay cao hơn, đối tượng rộng hơn hiện nay.
Mỗi khi giá dịch vụ cao và sản phẩm đầu ra rất chất lượng thì chi phí cũng cao. Để đảm bảo công bằng xã hội, chi phí cho việc học đại học cũng là khoản đầu tư cần thiết và đáng lựa chọn.
Ở một khía cạnh tích cực khác, mỗi khi chi phí cao thì trách nhiệm của người học đối với việc học cũng sẽ tốt hơn; việc theo đuổi mục tiêu sẽ thuận lợi hơn một nền giáo dục “giá rẻ”.
Thứ bảy, văn hóa – khoa học – giáo dục luôn có quan hệ khăng khít với nhau và rất cần cho nhau. Để có nền giáo dục đại học chuẩn mực, chất lượng rất cần xây dựng một nền văn hóa với các giá trị chuẩn mực.
Cần nỗ lực để kiến thiết văn hóa chia sẻ trong xã hội cũng như quy định về trách nhiệm giải trình của các bên liên quan.
Có được nền tảng văn hóa tốt, việc huy động nguồn lực tài chính đầu tư cho đại học, cho khoa học sẽ thuận lợi hơn và hi vọng sẽ có nguồn nhân lực thực sự chất lượng. Có như vậy chúng ta sẽ có niềm tin vào một tương lai của đất nước tươi sáng hơn.
Tóm lại, chúng ta luôn ao ước về một nền giáo dục đại học hiện đại, chuẩn mực như nhiều trường ở các nước tiên tiến nhưng nếu nghiên cứu thật kĩ thì không có nơi đâu, thời nào chỉ có màu hồng mà không màu xám.
Giáo dục đại học Việt Nam dù còn nhiều điều đáng phải bàn, nhưng khách quan nhìn nhận thì đã có xu hướng phát triển tốt hơn, hội nhập mạnh hơn.
Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới mô hình quản trị đại học là rất cần và cũng rất cần đổi mới mô hình quản lí nhà nước đối với giáo dục đại học.
Quản trị đại học và quản lí nhà nước rất cần tháo gỡ các nút thắt để khơi thông nguồn tài chính đầu tư, tài trợ cho giáo dục đại học và là vấn đề rất đáng quan tâm từ Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Điều đó nên xuất phát từ một chiến lược phát triển nhân tài tầm cỡ của quốc gia.
GDVN – Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.
LTS GDVN: Hiện nay, ngân sách đầu tư cho giáo dục đại học đang rất thấp (chỉ chiếm 0,27% GDP theo thống kê của Bộ Tài chính năm 2020).
Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.
Bài toán tài chính với các trường đại học đến nay vẫn là một thách thức lớn. Để hiểu rõ hơn về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Phóng viên:Giáo dục đại học có vai trò quan trọng, đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, cần có đầu tư tương xứng. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn đánh giá như thế nào về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Giáo dục đại học có sứ mạng phát triển con người thế hệ mới, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.
Đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, mang lại hiệu quả trực tiếp và lâu dài cho người học và gia đình (lợi ích riêng hay lợi ích tư) cũng như cho cả nền kinh tế và toàn xã hội (lợi ích chung hay lợi ích công), vì vậy mà cả nhà nước, người học và toàn xã hội cùng có trách nhiệm chia sẻ kinh phí đầu tư.
Quy mô và chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định đó là nguồn lực tài chính.
Thực chất, các yếu tố bảo đảm chất lượng bên trong như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, phương thức đào tạo… cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn lực tài chính.
Theo báo cáo “Giáo dục, đào tạo Việt Nam – Kết quả đánh giá từ Tổng điều tra kinh tế năm 2021” của Tổng Cục thống kê, tổng chi của tất cả cơ sở giáo dục đại học trong năm 2020 là gần 47,8 nghìn tỉ đồng, tương đương 0,6% GDP.
Như vậy, suất chi bình quân trên một người học xấp xỉ 25,8 triệu đồng, tương đương với 31% bình quân GDP trên đầu người, số liệu này khá trùng khớp với tính toán qua khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đáng chú ý là so với năm 2016, tổng chi của khối giáo dục đại học năm 2020 chỉ tăng 0,3 nghìn tỉ đồng (tăng 0,6%), trong khi đó tổng chi của khối giáo dục phổ thông năm 2020 tăng 43,7 nghìn tỉ đồng (tăng 34,2%).
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội
Theo số liệu do Bộ Tài chính cung cấp, dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học năm 2020 là 16,7 nghìn tỉ, tương ứng với 0,96% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,62% dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo hay 0,27% GDP.
Tuy nhiên, kinh phí thực chi chỉ đạt 11,32 nghìn tỉ, tương ứng 0,65% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,06% ngân sách nhà nước thực chi cho giáo dục, đào tạo hay 0,18% GDP (tỉ trọng kinh phí thực chi cho giáo dục đại học trên GDP năm 2018 là 0,20% và năm 2019 là 0,19%).
Như vậy, dự toán ngân sách nhà nước chiếm 34,9% tổng chi của toàn khối giáo dục đại học (phù hợp với số liệu cơ cấu nguồn thu do Tổng cục Thống kê đưa ra), nhưng tỉ trọng thực chi chỉ đạt 23,7%.
Những con số trên đây cho thấy nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học ở nước ta không những rất thấp, mà thực tế còn giảm trong một số năm gần đây nếu tính tới chỉ số lạm phát.
Mặc dù trong điều kiện như vậy, hệ thống giáo dục đại học đã có những chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu và hội nhập quốc tế, nhưng thực tế đang rơi vào “bẫy chất lượng trung bình”.
Có thể nói, nguồn lực tài chính đang là điểm nghẽn lớn nhất đối với phát triển giáo dục đại học và thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của nước ta.
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội
Phóng viên:So với các nước có cùng mức sống và các nước phát triển, nguồn lực đó đang ở mức độ nào, thưa Thứ trưởng?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Theo số liệu thống kê của OECD năm 2020 (không tính đào tạo trình độ cao đẳng), tỉ trọng tổng chi của các cơ sở giáo dục đại học trên GDP bình quân các nước khối OECD đạt 1,4%, khối EU đạt 1,3%, Hàn Quốc 1,4%, Nhật Bản 1,2 %, Australia 1,7% và Anh 1,9%, cao gấp từ 2 đến 3 lần so với Việt Nam (0,6%).
Tính theo suất chi bình quân cho một người học (đại học và sau đại học) trên bình quân GDP/đầu người, bình quân các nước khối OECD là 42%, khối EU 40%, Hàn Quốc 30%, Nhật Bản 49%, Australia 45% và Anh 62%, trong khi tỉ lệ này của Việt Nam là 31% (GDP bình quân đầu người ở Việt Nam thấp hơn nhiều lần so với các quốc gia nói trên).
Đối sánh tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo, theo thống kê năm gần nhất (có số liệu) của Ngân hàng thế giới thì bình quân nhóm quốc gia thu nhập thấp đạt 19%, nhóm quốc gia thu nhập trung bình đạt 18% và nhóm quốc gia thu nhập cao đạt 23%, cao hơn gấp 4 đến 5 lần so với Việt Nam (dù lấy số liệu thực chi 4,06% hoặc số liệu dự toán 4,62%).
Tính theo tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP, số liệu bình quân các nước khối OECD trong giai đoạn 10 năm gần đây đều giữ ổn định ở mức xấp xỉ 1%, trong khi Cộng hòa liên bang Đức có tỉ trọng tăng dần và đạt 1,39% vào năm 2020.
Đối với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP năm 2020 nằm trong khoảng từ 0,6% tới 0,75%, mặc dù đã giảm nhiều sau một giai đoạn đầu tư mạnh nhiều năm trước (Malaysia năm 2001 đạt 2,56%, Thái Lan năm 2000 đạt 1,07%, Singapore năm 2012 đạt 1,17%).
Như vậy, tính trên tất cả các chỉ số quan trọng, mức đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam đều thấp hơn nhiều lần so với các nước thuộc nhiều nhóm khác nhau.
Nhìn ngay sang Trung Quốc, một quốc gia điển hình mà chúng ta có thể học hỏi được nhiều từ đổi mới phát triển nền kinh tế dựa trên khoa học và công nghệ, 24 đại học có dự toán ngân sách thu chi lớn nhất năm 2023 đều vượt 10 tỉ Nhân dân tệ, trong đó 4 đại học vượt 20 tỉ Nhân dân tệ (quy đổi sang USD: Đại học Thanh Hoa 5,67 tỉ, Đại học Chiết Giang 4,26 tỉ, Đại học Giao thông Thượng Hải 3,66 tỉ, Đại học Bắc Kinh 3,11 tỉ); chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước bình quân trên một sinh viên/năm là 39.220 Nhân dân tệ (tương đương 5.415 USD).
Phóng viên:Theo Thứ trưởng, chúng ta cần phải tăng nguồn lực tài chính mức nào để đáp ứng yêu cầu năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước có thu nhập cao như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Để đạt được mục tiêu tới năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước phát triển, có thu nhập cao, thì phải thực hiện được đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải tháo gỡ được điểm nghẽn về tài chính cho giáo dục đại học và khoa học, công nghệ.
Những số liệu phân tích trên đây đã chỉ rõ, trong giai đoạn tới 2030 chúng ta cần tăng nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học lên ít nhất 2 đến 3 lần so với hiện nay, cả từ ngân sách nhà nước và nguồn lực huy động từ xã hội.
Đây cũng là nội dung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất, kiến nghị trong dự thảo Báo cáo tổng kết 10 thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương khóa XI đã trình Bộ Chính trị, cũng như trong dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục tới 2030 và dự thảo Báo cáo Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm đang trình Thủ tướng Chính phủ.
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)
Phóng viên:Việc huy động các nguồn lực xã hội, sự tham gia của người dân và tổ chức xã hội đối với giáo dục đại học của nước ta hiện còn hạn chế.
Theo Thứ trưởng, làm sao để nguồn lực đầu tư của Nhà nước có thể dẫn dắt đầu tư công, để đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhằm tạo nên một sức bật cho giáo dục đại học nước nhà?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Các nguồn thu chính của các cơ sở giáo dục đại học bao gồm kinh phí từ ngân sách nhà nước, học phí của người học, kinh phí hợp đồng khoa học-công nghệ từ doanh nghiệp, hoạt động dịch vụ khác của cơ sở giáo dục đại học và tài trợ, cho tặng từ các tổ chức, cá nhân.
Như vậy, cần phải đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, đồng thời phải có những chính sách phù hợp nhằm tăng cường huy động các nguồn lực từ xã hội.
Trước hết, cần minh bạch hóa toàn bộ kết quả hoạt động của tất cả cơ sở giáo dục đại học thông qua các chỉ số chủ yếu, bao gồm cả kết quả tài chính, trên cơ sở đó phân tích hiệu quả chi ngân sách nhà nước ở các cấp độ lĩnh vực đào tạo, cơ sở đào tạo và cả hệ thống giáo dục đại học, xây dựng và triển khai hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, lấy hiệu quả đầu tư là tiêu chí chủ yếu.
Đồng thời, gắn phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học với phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ, bảo đảm tỉ trọng ngân sách nhà nước chi cho nghiên cứu, phát triển tại các cơ sở giáo dục đại học tương xứng với năng lực và kết quả hoạt động nghiên cứu, phát triển.
Để thu hút, khuyến khích doanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá nhân hợp tác, tài trợ cho các cơ sở giáo dục đại học trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục đổi mới các chính sách ưu đãi về thuế.
Khi năng lực của các cơ sở giáo dục đại học được tăng cường đồng thời trình độ của nền công nghiệp nước ta từng bước được nâng lên, nhu cầu hợp tác, tài trợ nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ gia tăng.
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội
Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn trong cơ chế sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước, trao quyền sở hữu trí tuệ cho các cơ sở giáo dục đại học đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ từ ngân sách nhà nước, đồng thời cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập đầu tư rủi ro vào các dự án khởi nghiệp, công ty khởi nguồn.
Có như vậy, các cơ sở giáo dục đại học mới thúc đẩy được hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp, cải thiện được cơ cấu nguồn thu đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu.
Trên cơ sở đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, để có thể huy động tốt hơn, hiệu quả hơn sự đóng góp từ người học, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung đổi mới chương trình và phương thức đào tạo, gắn kết với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thị trường việc làm, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, qua đó củng cố niềm tin và thu hút người học.
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội
Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách học phí gắn với cải tiến và mở rộng các chính sách hỗ trợ người học (đại học và sau đại học), nhất là chính sách học bổng khuyến khích học tập và tín dụng ưu đãi, căn cứ điều kiện kinh tế, năng lực học tập và lĩnh vực, ngành học, không phân biệt trường công lập hay tư thục.
Cuối cùng, chính sách tốt nhất để huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội đó là tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm tự chủ đại học đi vào chiều sâu, thực chất và toàn diện.
Khi đó, các cơ sở giáo dục đại học sẽ phải đổi mới hệ thống quản trị để phát huy tối đa nội lực, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ nhà nước (bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản trí tuệ, thương hiệu nhà trường) để đẩy mạnh hợp tác và thu hút tài trợ từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.
Các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ phải chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu, giữ gìn lòng tin đối với người học và xã hội thông qua liên tục nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Nói cách khác, cơ chế tự chủ chính là cái đòn bẩy cho phát triển giáo dục đại học, đã có điểm tựa chắc chắn, cần phải gỡ bỏ mọi sức cản và tăng đầu tư nguồn lực của nhà nước vào đúng chỗ.
Giảng viên và sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tại cuộc thi Sáng tạo trẻ năm 2023 (Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội)
Phóng viên: Từ thực tiễn cho thấy, dù chúng ta có tăng nguồn lực từ Nhà nước, từ xã hội đến đâu đi chăng nữa thì cũng không bao giờ đáp ứng được yêu cầu phát triển. Phải chăng chúng ta cần phải xác định rõ những lĩnh vực cần phải ưu tiên, các trình độ của giáo dục đại học cần phải ưu tiên, thưa Thứ trưởng?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Đúng vậy, đã là đầu tư thì dù từ nguồn lực của Nhà nước hay xã hội cũng cần ưu tiên vào những nơi mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất, tạo sức bật lớn nhất cho cả hệ thống. Đối với cả hệ thống giáo dục đại học thì đầu tư cho thu hút, đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên gắn với công tác nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ cần phải được ưu tiên hàng đầu.
Đối với người học thì đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện chính sách cần được đặc biệt quan tâm.
Các lĩnh vực đào tạo cần được ưu tiên đầu tư cũng đã được chỉ rõ trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là các lĩnh vực thiết yếu đối với lợi ích chung của toàn xã hội và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, đặc biệt các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ then chốt phục vụ phát triển và ứng dụng công nghệ cao.
Cuối cùng, các cơ sở giáo dục đại học cần được ưu tiên đầu tư nhiều nhất chính là các cơ sở giáo dục đại học công lập có uy tín và năng lực mạnh nhất cả nước và từng vùng về đào tạo, nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên, có khả năng dẫn dắt và ảnh hưởng lan tỏa tới toàn hệ thống.