Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn: Cơ hội rất lớn cho giáo dục

Khởi đầu cho nhiệm kỳ mới, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn có một chia sẻ với Tuổi Trẻ về những nhận định của ông về thách thức và cơ hội của giáo dục.

Hoàng Minh Sơn - Ảnh 1.
Nữ sinh Trường THPT Trần Phú (phường Phú Thọ Hòa, TP.HCM) trong ngày khai giảng năm học mới 2025-2026 – Ảnh: THANH HIỆP

Những gì ông sẽ nỗ lực ở vị trí “tư lệnh ngành”?

Cơ hội cho đại học

* Trong bối cảnh cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhiều cơ sở đại học đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào các ngành mạnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng, hợp tác quốc tế nhưng đó vẫn là những nỗ lực đơn lẻ. Ở nhiệm kỳ của mình, ông có dự định gì trong việc đề xuất, triển khai để tạo cơ hội hình thành các trường/nhóm trường mạnh có sức cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo nhân lực chất lượng cao?

– Nghị quyết số 57 và số 71 của Bộ Chính trị đã mở ra một cơ hội chưa từng có cho hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục đại học nói riêng với những chủ trương, quyết sách và cam kết nguồn lực đầu tư mạnh mẽ.

Nghị quyết 57 đã xác định các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm ngang tầm khu vực và thế giới, trở thành các trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. 

Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành bốn văn bản luật và hai nghị quyết, trong đó có những cơ chế, chính sách đột phá và chương trình mục tiêu quốc gia.

Hoàng Minh Sơn - Ảnh 2.
Học sinh Hà Nội tìm hiểu về thiên văn. Đây là một hoạt động trải nghiệm có thể đưa vào buổi 2 trong hướng dẫn của Bộ GD-ĐT – Ảnh: VĨNH HÀ

Để cụ thể hóa các chủ trương thành hành động, giải pháp cụ thể, trong thời gian qua bộ đã chủ trì và cũng như phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nhiều đề án phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đề án và chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm. 

Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng có một cấu phần quan trọng, đó là đầu tư trọng điểm cho khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phấn đấu có ít nhất 8 đại học thuộc nhóm đầu khu vực châu Á. Hiện nay bộ cũng đang hoàn thiện trình Chính phủ một số nghị định về cơ chế tài chính, tự chủ đại học và chính sách học bổng cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Như vậy có thể nói cơ sở chính trị, pháp lý với hệ thống cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được thiết kế khá đầy đủ. Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Hoàng Minh Sơn - Ảnh 3.
Học sinh ở đặc khu Trường Sa trong niềm vui đến trường – Ảnh: NGỌC ÁNH

* Hành trình giao tự chủ cho đại học đã có một bước tiến dài, tuy nhiên còn có nhiều vấn đề bất cập. Nhưng dường như giai đoạn vừa qua việc tự chủ mới chỉ là trông đợi vào đóng góp xã hội, tự chủ là trường tự lo, là càng xã hội hóa càng nhiều càng thành công. Quan điểm của ông về tự chủ đại học là như thế nào? Theo ông, việc gì cần cấp bách xử lý để thúc đẩy việc này?

– Trong thời gian 8 đến 10 năm trở lại đây, chính sách tự chủ đại học đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và tư thục, đã rất chủ động, nỗ lực huy động các nguồn lực, tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. 

Tuy nhiên để có năng lực cạnh tranh quốc tế và đáp ứng tốt yêu cầu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cho phát triển đất nước, những sự nỗ lực của riêng các cơ sở giáo dục đại học là không đủ khi nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí và chính sách xã hội hóa.

Đây là một điểm nghẽn lớn đã được chỉ ra trong nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: “quan niệm về tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững”. 

Từ đó, nghị quyết 71 khẳng định “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân”, “Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính”. 

Phần nhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết cũng đã nêu rõ “…chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học”.

Như vậy, quan điểm về tự chủ đại học và chủ trương tăng mạnh đầu tư cho giáo dục đại học đã được khẳng định rõ trong nghị quyết của Đảng. Nội dung này cũng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới được 

Quốc hội ban hành cuối năm 2025. Vấn đề còn lại là quản trị thực thi, trong đó đặc biệt là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ Nhà nước cũng như huy động nguồn lực từ xã hội.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn: Cơ hội rất lớn cho giáo dục - Ảnh 1.

Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn

Hoàng Minh Sơn - Ảnh 4.
Đội tuyển học sinh Việt Nam dự thi Olympic hóa học quốc tế Mendeleev (IMChO) lần thứ 60 giành 2 huy chương vàng, 2 huy chương bạc. Tất cả các thành viên trong đội tuyển đều có giải. – Ảnh: BỘ GD-ĐT

Nhà nước cần tài trợ, đặt hàng đại học

* Ông từng bày tỏ quan điểm các trường tự chủ nhưng Nhà nước vẫn cấp kinh phí “đặt hàng” cơ sở đại học để triển khai các dự án mang tính trọng điểm. Nhưng trên thực tế vấn đề này vẫn đang gặp khó khăn. Theo ông, cần giải quyết những gì từ cơ chế và năng lực của các cơ sở đại học để hiện thực hóa được điều này?

– Chúng ta nói nhiều và kỳ vọng nhiều vào đổi mới cơ chế tài chính đại học thông qua “đặt hàng” các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên cơ chế đặt hàng đào tạo hiện nay mới được thực hiện ở phạm vi rất hẹp do một số vấn đề vướng mắc, chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận “đặt hàng theo đầu vào”. 

Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì xây dựng nghị định của Chính phủ có nội dung về cơ chế đặt hàng theo đầu ra. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ đặt hàng và chi trả cơ sở đào tạo theo số người tốt nghiệp thực tế được nhận vào làm việc tại nơi làm việc và trong lĩnh vực theo nhu cầu đặt hàng.

Đối với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cần phân biệt rõ giữa “tài trợ” và “đặt hàng”. Khác với tài trợ nghiên cứu khi mà sản phẩm đầu ra chủ yếu do nhóm nghiên cứu quyết định bảo đảm phù hợp với mục đích tài trợ, vấn đề mấu chốt đối với đặt hàng nghiên cứu và phát triển là cần xác định rõ yêu cầu kết quả đầu ra là gì và ai có nhu cầu cũng như trách nhiệm đặt hàng. 

Cũng cần nhìn nhận sứ mạng và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là để tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhiều kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giải pháp và sản phẩm ứng dụng, mang lại giá trị thương mại trong thực tế, nhưng đó là một chặng đường dài và cần có sự tham gia, đồng hành và hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp.

Vì vậy Nhà nước cần tài trợ và đặt hàng đại học để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo ra tri thức và công nghệ mới nhưng doanh nghiệp thì cần hợp tác với đại học để kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và giải pháp thực tế.

Hoàng Minh Sơn - Ảnh 6.
PGS.TS. Bùi Hồng Thuỷ – Khoa Công nghệ Sinh học ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP.HCM – hướng dẫn thực hành sinh viên tại Phòng thí nghiệm về tế bào và gen – Ảnh: BÍCH NGỌC

Giáo dục phổ thông: 3 việc sẽ phải làm tốt

* Theo quan điểm của ông, vấn đề nào của giáo dục phổ thông hiện nay cần được ưu tiên quan tâm. Và trong nhiệm kỳ của mình, những việc ông sẽ ưu tiên làm nhằm hướng đến đảm bảo công bằng về tiếp cận giáo dục, nâng chất lượng giáo dục và từng bước giải quyết các tiêu cực đang để kéo dài?

– Đối với giáo dục phổ thông, vấn đề lớn nhất cần được quan tâm đó là đầu tư đủ trường lớp, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên đạt chuẩn.

Bên cạnh đó là chế độ chính sách đối với đội ngũ giáo viên và đối với những học sinh thuộc đối tượng, khu vực có điều kiện khó khăn. Đồng thời cần nhanh chóng xây dựng nền tảng giáo dục thông minh quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát và cung cấp miễn phí cho học sinh ở mức độ cơ bản, tạo điều kiện cho từng em có lộ trình học tập cá thể hóa.

Làm tốt được ba việc này chúng ta sẽ cơ bản giải quyết được vấn đề công bằng trong tiếp cận, nâng cao chất lượng giáo dục và giảm thiểu tiêu cực trong thi cử, dạy thêm học thêm.

Hoàng Minh Sơn - Ảnh 5.
Học sinh chúc mừng giáo viên nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 – Ảnh: NHƯ HÙNG

Hướng tới học thật, thi thật

* Câu chuyện về áp lực thi cử, tiêu cực trong thi cử vẫn tồn tại nhiều năm qua và có xu hướng tăng hơn. Theo ông, cần các giải pháp cụ thể, sâu sát ra sao để hướng tới việc “học thật, thi thật”?

– Có hai nguyên nhân sâu xa dẫn tới áp lực thi cử, tiêu cực trong thi cử. Thứ nhất, chênh lệch giữa nhu cầu học tập với khả năng đáp ứng của các nhà trường dẫn tới các gia đình và học sinh phải chạy đua học thêm, cạnh tranh thi cử để giành suất học, giành chỗ học tốt.

Thứ hai, việc đánh giá kết quả học tập, công tác tuyển sinh và tuyển dụng phụ thuộc nhiều vào điểm số các kỳ thi cũng sẽ làm tăng áp lực và hiện tượng tiêu cực trong thi cử.

Qua ví dụ cải tiến công tác tuyển sinh đại học trong những năm gần đây cho thấy khi cung và cầu đã cân đối và phương thức, tiêu chí tuyển sinh đa dạng hơn, áp lực thi cử và tiêu cực đã giảm hẳn.

Bên cạnh ba giải pháp ưu tiên tôi nêu trong câu hỏi trước, chúng ta cần tiếp tục cải tiến chương trình, phương thức đánh giá kết quả học tập. Các cơ quan nhà nước cũng cần đổi mới mạnh mẽ phương thức, tiêu chí tuyển dụng dựa trên đánh giá năng lực thực chất thay vì chủ yếu dựa trên điểm số và bằng cấp. Các giải pháp đồng bộ này sẽ góp phần giải quyết căn cơ hướng tới giải quyết nhiều vấn đề bức xúc trong thực tiễn và hướng tới học thật, thi thật.

Vĩnh Hà (Nguồn: Tuổi trẻ)

Từ nay tới năm 2030 cần tăng nguồn lực tài chính cho GDĐH lên ít nhất 2-3 lần

GDVN – Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.

LTS GDVN: Hiện nay, ngân sách đầu tư cho giáo dục đại học đang rất thấp (chỉ chiếm 0,27% GDP theo thống kê của Bộ Tài chính năm 2020).

Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.

Bài toán tài chính với các trường đại học đến nay vẫn là một thách thức lớn. Để hiểu rõ hơn về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Phóng viên: Giáo dục đại học có vai trò quan trọng, đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, cần có đầu tư tương xứng. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn đánh giá như thế nào về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Giáo dục đại học có sứ mạng phát triển con người thế hệ mới, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

Đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, mang lại hiệu quả trực tiếp và lâu dài cho người học và gia đình (lợi ích riêng hay lợi ích tư) cũng như cho cả nền kinh tế và toàn xã hội (lợi ích chung hay lợi ích công), vì vậy mà cả nhà nước, người học và toàn xã hội cùng có trách nhiệm chia sẻ kinh phí đầu tư.

Quy mô và chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định đó là nguồn lực tài chính.

Thực chất, các yếu tố bảo đảm chất lượng bên trong như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, phương thức đào tạo… cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn lực tài chính.

Theo báo cáo “Giáo dục, đào tạo Việt Nam – Kết quả đánh giá từ Tổng điều tra kinh tế năm 2021” của Tổng Cục thống kê, tổng chi của tất cả cơ sở giáo dục đại học trong năm 2020 là gần 47,8 nghìn tỉ đồng, tương đương 0,6% GDP.

Như vậy, suất chi bình quân trên một người học xấp xỉ 25,8 triệu đồng, tương đương với 31% bình quân GDP trên đầu người, số liệu này khá trùng khớp với tính toán qua khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đáng chú ý là so với năm 2016, tổng chi của khối giáo dục đại học năm 2020 chỉ tăng 0,3 nghìn tỉ đồng (tăng 0,6%), trong khi đó tổng chi của khối giáo dục phổ thông năm 2020 tăng 43,7 nghìn tỉ đồng (tăng 34,2%).

2.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Theo số liệu do Bộ Tài chính cung cấp, dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học năm 2020 là 16,7 nghìn tỉ, tương ứng với 0,96% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,62% dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo hay 0,27% GDP.

Tuy nhiên, kinh phí thực chi chỉ đạt 11,32 nghìn tỉ, tương ứng 0,65% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,06% ngân sách nhà nước thực chi cho giáo dục, đào tạo hay 0,18% GDP (tỉ trọng kinh phí thực chi cho giáo dục đại học trên GDP năm 2018 là 0,20% và năm 2019 là 0,19%).

Như vậy, dự toán ngân sách nhà nước chiếm 34,9% tổng chi của toàn khối giáo dục đại học (phù hợp với số liệu cơ cấu nguồn thu do Tổng cục Thống kê đưa ra), nhưng tỉ trọng thực chi chỉ đạt 23,7%.

Những con số trên đây cho thấy nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học ở nước ta không những rất thấp, mà thực tế còn giảm trong một số năm gần đây nếu tính tới chỉ số lạm phát.

Mặc dù trong điều kiện như vậy, hệ thống giáo dục đại học đã có những chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu và hội nhập quốc tế, nhưng thực tế đang rơi vào “bẫy chất lượng trung bình”.

Có thể nói, nguồn lực tài chính đang là điểm nghẽn lớn nhất đối với phát triển giáo dục đại học và thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của nước ta.

3.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Phóng viên: So với các nước có cùng mức sống và các nước phát triển, nguồn lực đó đang ở mức độ nào, thưa Thứ trưởng?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Theo số liệu thống kê của OECD năm 2020 (không tính đào tạo trình độ cao đẳng), tỉ trọng tổng chi của các cơ sở giáo dục đại học trên GDP bình quân các nước khối OECD đạt 1,4%, khối EU đạt 1,3%, Hàn Quốc 1,4%, Nhật Bản 1,2 %, Australia 1,7% và Anh 1,9%, cao gấp từ 2 đến 3 lần so với Việt Nam (0,6%).

Tính theo suất chi bình quân cho một người học (đại học và sau đại học) trên bình quân GDP/đầu người, bình quân các nước khối OECD là 42%, khối EU 40%, Hàn Quốc 30%, Nhật Bản 49%, Australia 45% và Anh 62%, trong khi tỉ lệ này của Việt Nam là 31% (GDP bình quân đầu người ở Việt Nam thấp hơn nhiều lần so với các quốc gia nói trên).

Biểu đồ 1.jpg
Biểu đồ 2.png

Đối sánh tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo, theo thống kê năm gần nhất (có số liệu) của Ngân hàng thế giới thì bình quân nhóm quốc gia thu nhập thấp đạt 19%, nhóm quốc gia thu nhập trung bình đạt 18% và nhóm quốc gia thu nhập cao đạt 23%, cao hơn gấp 4 đến 5 lần so với Việt Nam (dù lấy số liệu thực chi 4,06% hoặc số liệu dự toán 4,62%).

Tính theo tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP, số liệu bình quân các nước khối OECD trong giai đoạn 10 năm gần đây đều giữ ổn định ở mức xấp xỉ 1%, trong khi Cộng hòa liên bang Đức có tỉ trọng tăng dần và đạt 1,39% vào năm 2020.

Đối với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP năm 2020 nằm trong khoảng từ 0,6% tới 0,75%, mặc dù đã giảm nhiều sau một giai đoạn đầu tư mạnh nhiều năm trước (Malaysia năm 2001 đạt 2,56%, Thái Lan năm 2000 đạt 1,07%, Singapore năm 2012 đạt 1,17%).

Biểu đồ 3.png

Như vậy, tính trên tất cả các chỉ số quan trọng, mức đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam đều thấp hơn nhiều lần so với các nước thuộc nhiều nhóm khác nhau.

Nhìn ngay sang Trung Quốc, một quốc gia điển hình mà chúng ta có thể học hỏi được nhiều từ đổi mới phát triển nền kinh tế dựa trên khoa học và công nghệ, 24 đại học có dự toán ngân sách thu chi lớn nhất năm 2023 đều vượt 10 tỉ Nhân dân tệ, trong đó 4 đại học vượt 20 tỉ Nhân dân tệ (quy đổi sang USD: Đại học Thanh Hoa 5,67 tỉ, Đại học Chiết Giang 4,26 tỉ, Đại học Giao thông Thượng Hải 3,66 tỉ, Đại học Bắc Kinh 3,11 tỉ); chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước bình quân trên một sinh viên/năm là 39.220 Nhân dân tệ (tương đương 5.415 USD).

Phóng viên: Theo Thứ trưởng, chúng ta cần phải tăng nguồn lực tài chính mức nào để đáp ứng yêu cầu năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước có thu nhập cao như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Để đạt được mục tiêu tới năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước phát triển, có thu nhập cao, thì phải thực hiện được đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải tháo gỡ được điểm nghẽn về tài chính cho giáo dục đại học và khoa học, công nghệ.

Những số liệu phân tích trên đây đã chỉ rõ, trong giai đoạn tới 2030 chúng ta cần tăng nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học lên ít nhất 2 đến 3 lần so với hiện nay, cả từ ngân sách nhà nước và nguồn lực huy động từ xã hội.

Đây cũng là nội dung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất, kiến nghị trong dự thảo Báo cáo tổng kết 10 thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương khóa XI đã trình Bộ Chính trị, cũng như trong dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục tới 2030 và dự thảo Báo cáo Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm đang trình Thủ tướng Chính phủ.

4.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Phóng viên: Việc huy động các nguồn lực xã hội, sự tham gia của người dân và tổ chức xã hội đối với giáo dục đại học của nước ta hiện còn hạn chế.

Theo Thứ trưởng, làm sao để nguồn lực đầu tư của Nhà nước có thể dẫn dắt đầu tư công, để đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhằm tạo nên một sức bật cho giáo dục đại học nước nhà?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Các nguồn thu chính của các cơ sở giáo dục đại học bao gồm kinh phí từ ngân sách nhà nước, học phí của người học, kinh phí hợp đồng khoa học-công nghệ từ doanh nghiệp, hoạt động dịch vụ khác của cơ sở giáo dục đại học và tài trợ, cho tặng từ các tổ chức, cá nhân.

Như vậy, cần phải đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, đồng thời phải có những chính sách phù hợp nhằm tăng cường huy động các nguồn lực từ xã hội.

Trước hết, cần minh bạch hóa toàn bộ kết quả hoạt động của tất cả cơ sở giáo dục đại học thông qua các chỉ số chủ yếu, bao gồm cả kết quả tài chính, trên cơ sở đó phân tích hiệu quả chi ngân sách nhà nước ở các cấp độ lĩnh vực đào tạo, cơ sở đào tạo và cả hệ thống giáo dục đại học, xây dựng và triển khai hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, lấy hiệu quả đầu tư là tiêu chí chủ yếu.

Đồng thời, gắn phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học với phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ, bảo đảm tỉ trọng ngân sách nhà nước chi cho nghiên cứu, phát triển tại các cơ sở giáo dục đại học tương xứng với năng lực và kết quả hoạt động nghiên cứu, phát triển.

Để thu hút, khuyến khích doanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá nhân hợp tác, tài trợ cho các cơ sở giáo dục đại học trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục đổi mới các chính sách ưu đãi về thuế.

Khi năng lực của các cơ sở giáo dục đại học được tăng cường đồng thời trình độ của nền công nghiệp nước ta từng bước được nâng lên, nhu cầu hợp tác, tài trợ nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ gia tăng.

5.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn trong cơ chế sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước, trao quyền sở hữu trí tuệ cho các cơ sở giáo dục đại học đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ từ ngân sách nhà nước, đồng thời cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập đầu tư rủi ro vào các dự án khởi nghiệp, công ty khởi nguồn.

Có như vậy, các cơ sở giáo dục đại học mới thúc đẩy được hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp, cải thiện được cơ cấu nguồn thu đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu.

Trên cơ sở đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, để có thể huy động tốt hơn, hiệu quả hơn sự đóng góp từ người học, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung đổi mới chương trình và phương thức đào tạo, gắn kết với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thị trường việc làm, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, qua đó củng cố niềm tin và thu hút người học.

6.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách học phí gắn với cải tiến và mở rộng các chính sách hỗ trợ người học (đại học và sau đại học), nhất là chính sách học bổng khuyến khích học tập và tín dụng ưu đãi, căn cứ điều kiện kinh tế, năng lực học tập và lĩnh vực, ngành học, không phân biệt trường công lập hay tư thục.

Cuối cùng, chính sách tốt nhất để huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội đó là tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm tự chủ đại học đi vào chiều sâu, thực chất và toàn diện.

Khi đó, các cơ sở giáo dục đại học sẽ phải đổi mới hệ thống quản trị để phát huy tối đa nội lực, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ nhà nước (bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản trí tuệ, thương hiệu nhà trường) để đẩy mạnh hợp tác và thu hút tài trợ từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.

Các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ phải chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu, giữ gìn lòng tin đối với người học và xã hội thông qua liên tục nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Nói cách khác, cơ chế tự chủ chính là cái đòn bẩy cho phát triển giáo dục đại học, đã có điểm tựa chắc chắn, cần phải gỡ bỏ mọi sức cản và tăng đầu tư nguồn lực của nhà nước vào đúng chỗ.

8.jpg
Giảng viên và sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tại cuộc thi Sáng tạo trẻ năm 2023 (Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội)

Phóng viên: Từ thực tiễn cho thấy, dù chúng ta có tăng nguồn lực từ Nhà nước, từ xã hội đến đâu đi chăng nữa thì cũng không bao giờ đáp ứng được yêu cầu phát triển. Phải chăng chúng ta cần phải xác định rõ những lĩnh vực cần phải ưu tiên, các trình độ của giáo dục đại học cần phải ưu tiên, thưa Thứ trưởng?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Đúng vậy, đã là đầu tư thì dù từ nguồn lực của Nhà nước hay xã hội cũng cần ưu tiên vào những nơi mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất, tạo sức bật lớn nhất cho cả hệ thống. Đối với cả hệ thống giáo dục đại học thì đầu tư cho thu hút, đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên gắn với công tác nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ cần phải được ưu tiên hàng đầu.

Đối với người học thì đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện chính sách cần được đặc biệt quan tâm.

Các lĩnh vực đào tạo cần được ưu tiên đầu tư cũng đã được chỉ rõ trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là các lĩnh vực thiết yếu đối với lợi ích chung của toàn xã hội và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, đặc biệt các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ then chốt phục vụ phát triển và ứng dụng công nghệ cao.

Cuối cùng, các cơ sở giáo dục đại học cần được ưu tiên đầu tư nhiều nhất chính là các cơ sở giáo dục đại học công lập có uy tín và năng lực mạnh nhất cả nước và từng vùng về đào tạo, nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên, có khả năng dẫn dắt và ảnh hưởng lan tỏa tới toàn hệ thống.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn.

Thùy Linh (thực hiện)