Có một “ngân hàng ký ức” mang tên giấc ngủ: Đừng để học sinh bị phá sản

Quan điểm của Walker về giấc ngủ và giáo dục là chúng ta không thể “ép” não bộ học tập nếu không cung cấp đủ “nhiên liệu” là giấc ngủ. Ông kêu gọi các nhà giáo dục cần nhìn nhận giấc ngủ là một phần của chương trình học chứ không phải là đối thủ của nó. Walker cổ súy việc lùi thời gian bắt đầu học tại trường như cách các trường ở châu Âu đã áp dụng.

Trong cuốn sách Why We Sleep, Matthew Walker dành một chương riêng để phân tích sự xung đột giữa hệ thống giáo dục hiện đại và nhu cầu sinh học của học sinh, sinh viên. Theo ông, hệ thống giáo dục hiện nay đang tạo ra một cuộc “khủng hoảng thiếu ngủ” thầm lặng trong giới trẻ.

Dưới đây là những quan điểm chính của ông về mối quan hệ giữa giấc ngủ và giáo dục:

1. Giấc ngủ là “ngân hàng” lưu trữ kiến thức

Walker ví bộ não giống như một chiếc ổ cứng. Giấc ngủ đóng hai vai trò sống còn đối với việc học:

  • Trước khi học: Giấc ngủ chuẩn bị cho bộ não khả năng tiếp nhận thông tin mới. Thiếu ngủ khiến các tế bào thần kinh ở vùng hồi hải mã (hippocampus) — nơi lưu trữ ký ức tạm thời – trở nên “đầy tải”, khiến thông tin mới không thể lọt vào.
  • Sau khi học: Giấc ngủ giúp “đóng băng” các ký ức mới, chuyển chúng từ vùng lưu trữ ngắn hạn dễ mất sang vùng lưu trữ dài hạn an toàn hơn (vỏ não). Nếu bạn học xong mà không ngủ đủ, dữ liệu đó sẽ dễ dàng bị xóa sạch.

2. Sự tàn phá của việc “thức đêm cày cuốc” (Cramming)

Nhiều sinh viên tin rằng thức xuyên đêm trước kỳ thi là cách hiệu quả. Walker bác bỏ điều này bằng số liệu thực nghiệm:

  • Những người thức đêm có khả năng ghi nhớ thông tin kém hơn 40% so với những người ngủ đủ.
  • Về mặt sinh học, việc thiếu ngủ làm suy yếu khả năng hình thành các liên kết thần kinh mới (tính dẻo của não).

3. “Trận chiến” với đồng hồ sinh học của thanh thiếu niên

Đây là quan điểm gây tranh cãi nhất nhưng có cơ sở khoa học mạnh mẽ của Walker:

  • Sự dịch chuyển nhịp sinh học: Thanh thiếu niên có nhịp sinh học bị đẩy lùi muộn hơn so với người lớn. Việc bắt một học sinh cấp 2 hay cấp 3 dậy lúc 6:00 sáng tương đương với việc bắt một người lớn dậy lúc 4:00 sáng.
  • Hệ quả: Khi đi học quá sớm, não bộ của học sinh vẫn đang ở trạng thái ngủ sâu hoặc ngủ REM. Điều này dẫn đến tình trạng “thây ma” trong các tiết học đầu tiên, làm giảm hiệu suất học tập và gia tăng các vấn đề tâm lý như lo âu, trầm cảm.

4. Đề xuất cải cách: Lùi giờ bắt đầu học

Walker cực lực ủng hộ việc lùi giờ vào lớp muộn hơn (ví dụ từ 7:30 sang 8:30 hoặc 9:00). Ông dẫn chứng các trường học áp dụng điều này đã thấy kết quả tức thì:

  • Điểm số trung bình (GPA) tăng lên rõ rệt.
  • Tỷ lệ học sinh đi học muộn và nghỉ học giảm.
  • Sức khỏe tâm thần cải thiện.
  • Đặc biệt: Tỷ lệ tai nạn giao thông ở học sinh tự lái xe đến trường giảm tới 70%.

5. Giấc ngủ và sự sáng tạo trong nghiên cứu

Đối với cấp độ giáo dục cao hơn (đại học và sau đại học), Walker nhấn mạnh vai trò của giấc ngủ REM. Đây là giai đoạn não bộ thực hiện “trị liệu tâm lý” và “kết nối tri thức”. Những ý tưởng đột phá thường đến sau một giấc ngủ ngon vì não bộ lúc đó đang xây dựng các liên kết logic mà khi tỉnh táo chúng ta không thấy được.

Đọc bài review cuốn sách Why We Sleep tại đây: https://knvm.vn/2026/02/05/matthew-walker-tai-sao-chung-ta-lai-ngu-why-we-sleep/

GS Ngô Bảo Châu: Thu hút nhân tài không thể chờ tự ứng cử

VnExpress – Hơn 36 năm kinh nghiệm tại môi trường học thuật quốc tế, GS Ngô Bảo Châu cho rằng để xây dựng nội lực khoa học, Việt Nam cần chủ động săn đón và mời gọi nhân tài về nước, kết hợp với đào tạo tại chỗ để nuôi dưỡng nguồn nhân lực từ bên trong.

Dù sống và làm việc tại Mỹ, GS Ngô Bảo Châu – nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới – dành nhiều tâm huyết cho sự phát triển của toán học nói riêng và khoa học nói chung tại Việt Nam. 15 năm qua, ngoài đảm nhiệm vị trí Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), ông tham gia, chủ trì nhiều hội thảo học thuật, xuất bản sách, và đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách phát triển khoa học trong nước.

Trong bối cảnh Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới, GS Ngô Bảo Châu chia sẻ với VnExpress về các kế hoạch ấp ủ trong tương lai, kinh nghiệm thu hút nhân tài, và mong muốn xây dựng một nền khoa học tầm vóc quốc tế bắt đầu từ đào tạo nghiên cứu sinh trong nước.

GS Ngô Bảo Châu - nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới - tại một tọa đàm năm 2022. Ảnh: Nhân vật cung cấp
GS Ngô Bảo Châu – nhà Toán học Việt Nam đầu tiên giành huy chương Fields, giải thưởng Toán học cao quý nhất thế giới. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Nuôi dưỡng “tế bào gốc” cho nền khoa học

– Sau khi giành giải thưởng Fields năm 2010, GS được Chính phủ mời về làm Giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), chung tay cùng các nhà khoa học trong nước phát triển nền toán học. Sau 15 năm, ông đánh giá liệu VIASM đã có thể so sánh với một khoa toán mạnh của trường đại học lớn trên thế giới?

– Viện không được thiết kế để tạo ra một khoa toán mạnh, cũng không có kinh phí cho đội ngũ cơ hữu. Mục đích ban đầu khi thành lập VIASM là hỗ trợ các nhà khoa học trong nước và từ đó sẽ tạo ra nhiều khoa Toán mạnh.

Trải qua hơn 15 năm, tôi nghĩ ít nhất giấc mơ của thế hệ đầu tiên xây dựng Viện đã thành hiện thực. Mức độ đầu tư của Nhà nước cho Viện còn khá khiêm tốn, nhưng nhờ cơ chế thông thoáng hơn so với các cơ sở hàn lâm ở Việt Nam, VIASM đã có một số dấu ấn nhất định, được cộng đồng khoa học quốc tế biết đến.

Đa số các nhà khoa học trong trường đại học ở Việt Nam rất thiếu thốn về cơ sở vật chất, không có hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, không có khả năng, kinh phí mời các nhà khoa học quốc tế về cộng tác. Trong 15 năm qua, Viện đã hỗ trợ kết nối các giáo sư quốc tế đến Việt Nam, tạo ra điểm gặp gỡ học thuật cho giới toán học trong và ngoài nước.

Điều quan trọng là VIASM đã tạo dựng được uy tín cao trong cộng đồng nhà khoa học châu Á và thế giới. Viện cũng xây dựng mạng lưới học giả hội tụ (VIASM Convergence Fellows Program), tức các nhà khoa học thành danh ở nước ngoài về Việt Nam làm việc, với vị trí đồng cơ hữu trong một số tháng nhất định và liên tục nhiều năm. Năm 2026 cũng sẽ có 6-7 học giả hội tụ như thế.

Tuy nhiên, đã đến lúc VIASM cần được đầu tư mạnh mẽ hơn, và xây dựng một hướng đi mới để bứt phá. Tôi cũng không thể đảm nhiệm công việc Giám đốc Khoa học của Viện suốt đời, sẽ có lúc cần chuyển giao cho những người trẻ tiếp quản. Thế nên, 2-3 năm nay, tôi và Ban Giám đốc của Viện tích cực chuẩn bị cho thế hệ kế cận, chủ động mời họ tham gia các công việc của Viện.

– Sau nhiều năm làm việc ở Pháp, rồi sang Mỹ, và gần đây có thông tin cho rằng GS sẽ trở về châu Á để bắt đầu sự nghiệp mới. Kế hoạch của ông thế nào?

– Với tôi, cuộc sống giống như một vòng tròn nhưng không quay lại chỗ cũ sau mỗi vòng quay. 18 năm đầu tôi sinh ra và trưởng thành ở Việt Nam, rồi sang Pháp học và làm việc 18 năm, qua Mỹ cũng đã 18 năm, tới giờ trên con đường trở lại châu Á. Trước đây, tôi không có ý định rời Mỹ dù nhận nhiều lời mời, nhưng một năm qua, tôi bắt đầu thay đổi ý định. Tôi sẽ chính thức bắt đầu công việc ở Đại học Hong Kong từ tháng 6/2026.

Lý do đầu tiên là bố mẹ tôi cũng lớn tuổi nên tôi muốn chuyển về gần Việt Nam hơn. Thêm nữa, nhiều năm qua, một việc tôi rất muốn làm, song chưa thể thực hiện vì thiếu thời gian, cơ hội, đó là trực tiếp đào tạo học sinh, sinh viên trong nước.

Ở Mỹ, mỗi năm tôi về Việt Nam nhiều lắm được hai lần, dịp hè khoảng 2-3 tháng, còn mùa đông xuân thì 2-3 tuần. Trong khi, tôi vẫn đảm trách vị trí Giám đốc Khoa học của VIASM, nên khi về nước thường phải xử lý cả các công việc liên quan đến quản lý, rất mất thời gian.

Nếu ở Hong Kong, 1-2 tuần tôi có thể bay về nước một lần. Tôi dự định trực tiếp đào tạo cho học sinh, sinh viên và các nghiên cứu sinh Việt Nam – điều tôi luôn ấp ủ. Ngoài ra, tôi cũng kỳ vọng xây dựng một mạng lưới nghiên cứu Toán ở châu Á, tập hợp các nhà khoa học trong khu vực. Về Hong Kong, tôi có thể hiện thực hóa ước muốn này.

GS Ngô Bảo Châu (áo xanh, ngồi giữa) cùng các nhà khoa học quốc tế tại hội thảo thường niên của VIASM năm 2023. Ảnh: VIASM
GS Ngô Bảo Châu (áo xanh, ngồi giữa) cùng các nhà khoa học quốc tế tại hội thảo thường niên của VIASM năm 2023. Ảnh: VIASM

– Một nền khoa học mạnh phải đào tạo được những người giỏi, tầm cỡ thế giới. Toán học Việt Nam nhiều năm qua chủ yếu dừng ở mức độ tôn vinh các học sinh đoạt giải Toán quốc tế, còn đội ngũ nghiên cứu tên tuổi khá ít ỏi. Theo GS, làm sao để khắc phục tình trạng này?

– Tôi nghĩ nhiều nhà quản lý cho rằng trong đào tạo cần phải có tự chủ, phải có hạch toán thu chi. Vì thế, các nghiên cứu sinh được nhìn nhận như một nguồn thu tài chính, phải trả học phí. Tư duy đó rất thô sơ.

Trên thế giới, doanh thu của các trường đại học đến từ đào tạo sinh viên, thạc sĩ, nghiên cứu và các khoản tài trợ. Còn nghiên cứu sinh là nơi cần đầu tư, vì đó là những người đang học cách tạo ra tri thức. Đây là công đoạn có thể so sánh với tế bào gốc trong phát triển khoa học, xứng đáng được đầu tư.

Cách đây hơn 5 năm, khi xây dựng Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2021-2030, chúng tôi đã đề nghị Nhà nước có học bổng cho nghiên cứu sinh, nhưng đề nghị này đã bị bác do Nghị định về học bổng không có đối tượng sau đại học.

Vì vậy, tôi rất mừng khi Nghị quyết 57 (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) đề cập đến sự cần thiết có cơ chế, chính sách hấp dẫn thu hút học sinh, sinh viên giỏi trong các lĩnh vực then chốt, nhất là ở trình độ sau đại học. Mới đây, tôi được biết đã có chủ trương miễn học phí và cấp học bổng ngay từ năm nay cho nghiên cứu sinh tại một số đại học trọng điểm (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Bách Khoa Hà Nội – PV). Đây là một hướng đi hoàn toàn đúng, nhưng giá mà điều này được thực hiện từ 5 năm trước!

Tôi hy vọng ngay trong năm 2026, chương trình đào tạo tiến sĩ Toán học xuất sắc phối hợp giữa VIASM và Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ được thông báo và chính thức tuyển sinh. Chương trình đặt mục tiêu đào tạo những tiến sĩ có trình độ tương đương các trường, viện tiên tiến trên thế giới, với sự tham gia của các nhà toán học hàng đầu Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Tuyển người giỏi phải chủ động

– Nhiều năm qua, Trung Quốc đã thực hiện quyết liệt chương trình thu hút nhân tài từ các nước trên thế giới với sự trở về của hàng loạt học giả nổi tiếng. Không chỉ trải thảm đỏ mời gọi nhà khoa học xuất thân từ Trung Quốc, họ còn tích cực chiêu mộ các giáo sư quốc tế tiếng tăm. Theo ông, điều gì giúp Trung Quốc thành công trong thu hút nhân tài?

– Những năm qua, Trung Quốc đầu tư rất lớn vào khoa học công nghệ, nhất là các ngành mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI). Trong cuộc trò chuyện tình cờ giữa tôi với một giáo sư người Pháp từ năm 2018, ông cho biết toàn bộ đầu tư của Pháp về AI mấy năm qua chỉ bằng mức đầu tư của một thành phố Trung Quốc trong một năm. Không chỉ Nhà nước, các công ty tư nhân Trung Quốc và nhiều quốc gia khác cũng đầu tư thành lập các viện nghiên cứu về Toán.

Trong khoa học cơ bản, hơn 15 năm nay, Trung Quốc đã chuẩn bị rất bài bản để tích cực thu hút nhà khoa học tên tuổi khắp thế giới. Ví dụ như kế hoạch Ngàn người tài (Thousand Talents Plan – TTP) được khởi xướng từ năm 2008 nhằm chiêu mộ những bộ óc thông minh đang học tập hoặc làm việc tại nước ngoài.

Ban đầu, việc này khá khó khăn vì không phải ai cũng hào hứng, nhất là các nhà khoa học trẻ. Bởi khi đã thành danh ở quốc tế, họ vẫn cần môi trường nghiên cứu lớn như Mỹ để phát triển. Nhưng dần dần, kế hoạch đã thành công rực rỡ.

Bên cạnh việc đưa ra những lợi ích vật chất như lương bổng, tài trợ để thực hiện nghiên cứu, xây dựng các trung tâm khoa học, tôi nhận thấy sự quyết tâm của lãnh đạo từng trường đại học. Với họ, việc chiêu mộ thành công một nhân tài là thành tích lớn của trường và dành nhiều thời gian, trực tiếp tham gia công việc này. Họ không chờ các nhân tài tự ứng cử.

Nhiệm vụ tìm kiếm nhân tài được giao cho hiệu trưởng, và họ hiểu rõ rằng chỉ có thu hút được những người giỏi thì mới có thể xây dựng đội ngũ khoa học chất lượng. Các nhà khoa học hàng đầu được mời về sẽ trở thành thỏi nam châm để thu hút những tên tuổi lớn khác.

Giờ đây, ở những trường lớn như Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, đội ngũ nhà nghiên cứu trẻ không thua kém gì các đại học lớn nhất Mỹ, với số lượng áp đảo hơn. Nghiên cứu khoa học về Toán của Trung Quốc thay đổi rõ rệt trong 5 năm gần đây. Và quan trọng, kế hoạch thu hút nhân tài của họ chưa dừng lại, mà ngày càng quyết liệt hơn.

– Từ kinh nghiệm cá nhân, theo ông làm thế nào thu hút người tài?

– Tôi giữ vị trí Trưởng khoa Toán ở Đại học Chicago (Mỹ) gần ba năm nay, vì thế cũng đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm trong việc tuyển mộ người tài.

Để tuyển được một nhà khoa học giỏi rất khó vì tỷ lệ cạnh tranh rất cao. Họ luôn có sẵn 3 – 4 trường đại học lớn mời chào. Mỗi trường có một gói đề xuất khác nhau về tài chính, bao gồm lương và quỹ hoạt động khoa học, họ được toàn quyền sử dụng, không phải hỏi ý kiến. Đó là lợi ích về vật chất, bắt buộc phải cạnh tranh.

Khi các quyền lợi vật chất là như nhau, thì người ta sẽ xét những yếu tố khác quan trọng không kém, như cơ hội phát triển khoa học, có nghiên cứu sinh giỏi, có sinh viên giỏi. Ở Đại học Chicago, chúng tôi có không khí khoa học sôi nổi, thường mời các nhà khoa học hàng đầu đến trao đổi. Bên cạnh chỗ dựa tài chính vững chắc, điểm khác biệt là tạo được môi trường mà ở đó nhà khoa học được thực hiện đúng thiên chức của mình, đó là tìm ra tri thức mới và đào tạo các nhà khoa học tương lai.

Khi lựa chọn về Hong Kong, dù hiểu rằng môi trường khoa học chưa bằng các đại học lớn ở Mỹ, nhưng tôi chấp nhận đánh đổi. Tôi nghĩ ở tuổi mình thì phải tự tạo ra không khí đó, chứ không chỉ thụ hưởng.

GS Ngô Bảo Châu chia sẻ tại Hội thảo kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế (1974-2024). Ảnh: VIASM
GS Ngô Bảo Châu chia sẻ tại Hội thảo kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham dự Olympic Toán học quốc tế (1974-2024). Ảnh: VIASM

– Không chỉ muốn thu hút nhân tài, Việt Nam cũng mong muốn có các nghiên cứu khoa học tầm cỡ thế giới. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để đạt mục tiêu này?

– Về cơ bản, cách đánh giá chất lượng công trình khoa học hiện nay tại Việt Nam chủ yếu dựa vào các chỉ số như số lượng công bố nằm trong một bảng xếp hạng quốc tế. Những chỉ số đó chỉ cho phép đánh giá xem mình ở vị trí trên trung bình hay không. Vì thế, nếu chúng ta theo đuổi các chỉ số này, sẽ không bao giờ vươn lên vị trí dẫn đầu.

Tôi nghĩ không nên đặt trọng tâm vào các con số, mà phải thay bằng các cách thức khác, thực ra lại dễ kiểm chứng hơn.

Nếu muốn đánh giá một nền khoa học có đủ tầm quốc tế, chúng ta hãy xem những nghiên cứu sinh mà họ đào tạo có đủ khả năng cạnh tranh quốc tế hay không.

Với đội ngũ giảng viên, hiện nhiều trường còn chưa đủ giáo sư cơ hữu. Do đó, chúng ta nên xây dựng cơ chế bán thời gian, đưa nhà khoa học nước ngoài về nước. Điểm mấu chốt là phải đào tạo ở Việt Nam, chứ không chỉ gửi ra nước ngoài. Chúng ta cần xây dựng nội lực từ trong nước.

Đại học muốn có nghiên cứu sinh giỏi cần đầu vào là sinh viên giỏi, và để có sinh viên giỏi cần chuẩn bị từ lớp dưới. Lứa học sinh chuyên toán có rất nhiều em giỏi, năng lực giải toán ấn tượng, nhưng đa số không được tiếp xúc với toán cao cấp hay nghiên cứu về toán. Do đó, thời gian tới, tôi muốn tổ chức các khóa học/seminar định kỳ, mục tiêu để các em sinh viên, học sinh làm quen với nghiên cứu toán cơ bản. Đó chính là nhóm nghiên cứu sinh tương lai sau này.

– Việt Nam đặt mục tiêu trở thành cường quốc khoa học công nghệ, nhất là về trí tuệ nhân tạo (AI). Tổng Bí thư Tô Lâm cũng từng nhấn mạnh phải quan tâm đến khoa học cơ bản, và đặc biệt là toán học lý thuyết thì mới có được AI, công nghệ sinh học, lượng tử… Theo Giáo sư, toán học có thể đóng góp vào mục tiêu này thế nào?

– Bối cảnh hiện nay chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của AI. Các trường đại học trên thế giới đều có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Mức độ đầu tư vào AI ngày càng khủng khiếp. Dẫu phát triển nhanh chóng, nó vẫn còn rất nhiều ẩn số, nhất là độ tin cậy.

Các công ty AI hiện đang đầu tư vào toán học với chi phí khổng lồ. Hiệu quả được đánh giá thông qua việc AI có thể giải toán được hay không. Việc tạo ra các thuật toán để giải quyết các bài toán mở là thước đo rất quan trọng để xác định mức độ tinh xảo, rủi ro, khả năng suy luận của AI.

Tôi nghĩ rằng, với sự phát triển của AI như bây giờ, nếu không đầu tư mạnh mẽ vào các môn khoa học về toán (Mathematical Sciences) chắc chắn chúng ta sẽ bị tụt hậu. Đó là vấn đề cấp thiết cho tương lai của bất kỳ nước nào, không chỉ riêng Việt Nam.

Với Việt Nam, tôi thấy sự chuyển mình rất mạnh mẽ những năm gần đây. Đặc biệt, giới khoa học rất phấn khởi với Nghị quyết 57. Bản thân tôi cũng rất vui và cho rằng đây là hướng đi đúng đắn và chúng ta không có lựa chọn nào khác. Tôi hy vọng rằng những chính sách này sẽ sớm được triển khai, hiện thực hóa.

Thành Nam – Mây Trinh – Lộc Chung
Nguồn: VnExpress

Matthew Walker – “Tại sao chúng ta lại ngủ” (Why We Sleep)

Cuốn sách “Tại sao chúng ta lại ngủ” (Why We Sleep) của Giáo sư Matthew Walker là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện nhất về giấc ngủ. Walker không chỉ giải thích cơ chế sinh học mà còn đưa ra lời cảnh báo đanh thép về “đại dịch thiếu ngủ” đang tàn phá sức khỏe hiện đại.

1. Hai “ông chủ” điều hành giấc ngủ

Để hiểu tại sao chúng ta ngủ và thức, Walker giới thiệu hai cơ chế chính:

  • Nhịp sinh học (Circadian rhythm): Một chiếc đồng hồ nội tâm kéo dài khoảng 24 giờ, giúp xác định khi nào bạn muốn thức và khi nào bạn muốn ngủ, điều khiển bởi hormone Melatonin. Metatonin báo hiệu cho cơ thể biết khi nào cần đi ngủ dựa trên ánh sáng môi trường.
  • Áp lực ngủ (Sleep pressure): Một hợp chất hóa học tên là Adenosine tích tụ trong não mỗi giây bạn thức giấc. Khi nồng độ Adenosine đủ cao, bạn sẽ cảm thấy cực kỳ buồn ngủ. Caffein hoạt động bằng cách “tạm khóa” các thụ thể Adenosine (vị trí chào đón Adenosine bên trong não bộ), đánh lừa não bộ rằng bạn chưa mệt.

2. Cấu trúc của giấc ngủ: NREM và REM

Giấc ngủ không phải là một trạng thái đồng nhất mà là một chu kỳ lặp lại (mỗi chu kỳ khoảng 90 phút) gồm hai loại chính:

  • Ngủ NREM (giấc ngủ mắt không chuyển động nhanh – Non-Rapid Eye Movement sleep, hay còn gọi là Ngủ sâu): Giúp “dọn dẹp” và lưu trữ thông tin, chuyển ký thực từ bộ nhớ ngắn hạn sang bộ nhớ dài hạn. Đây là giai đoạn phục hồi thể chất.
  • Ngủ REM (giấc ngủ mắt chuyển động nhanh – Raid Eye Movement – hay còn gọi là Ngủ mơ): Giai đoạn não bộ hoạt động mạnh mẽ như khi thức. Đây là lúc chúng ta sáng tạo, giải quyết các xung đột cảm xúc và kết nối các ý tưởng rời rạc lại với nhau.

3. Hậu quả kinh hoàng của việc thiếu ngủ

Walker khẳng định: “Giấc ngủ càng ngắn, vòng đời càng ngắn.” Việc thiếu ngủ (dưới 7-8 tiếng mỗi đêm) dẫn đến những hệ lụy:

  • Sức khỏe tâm thần: Tăng nguy cơ trầm cảm, lo âu và suy giảm khả năng kiểm soát cảm xúc.
  • Bệnh nan y: Liên quan trực tiếp đến ung thư, Alzheimer, tiểu đường tuýp 2 và các bệnh tim mạch.
  • Hệ miễn dịch: Chỉ sau một đêm ngủ 4 tiếng, các tế bào tiêu diệt tự nhiên (sát thủ chống ung thư) giảm tới 70%.
  • An toàn: Thiếu ngủ gây ra tình trạng “vi giấc ngủ” (micro-sleep), là nguyên nhân gây ra nhiều vụ tai nạn giao thông hơn cả rượu bia và chất kích thích cộng lại.

4. Những kẻ thù của giấc ngủ hiện đại

Cuốn sách chỉ ra những yếu tố đang “đánh cắp” giấc ngủ của chúng ta:

  1. Ánh sáng xanh: Từ màn hình điện thoại/laptop ức chế sản sinh Melatonin.
  2. Nhiệt độ: Phòng quá ấm khiến cơ thể khó hạ nhiệt độ lõi để đi vào giấc ngủ (nhiệt độ lý tưởng là khoảng 18.3°C).
  3. Rượu và Thuốc ngủ: Walker nhấn mạnh rượu không giúp bạn ngủ ngon, nó chỉ làm bạn “bất tỉnh”. Nó tiêu diệt giấc ngủ REM. Thuốc ngủ cũng chỉ tạo ra trạng thái an thần giả tạo, không mang lại giá trị phục hồi như giấc ngủ tự nhiên.

=> 5 Lời khuyên để có giấc ngủ ngon nhất:

  • Tuân thủ lịch trình: Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày (kể cả cuối tuần).
  • Giữ không gian mát mẻ: Cơ thể cần giảm nhiệt độ để bắt đầu ngủ.
  • Hạn chế ánh sáng: Tắt bớt đèn một tiếng trước khi ngủ.
  • Tránh Caffein và Rượu: Đặc biệt là vào buổi chiều và tối.
  • Đừng nằm trên giường nếu không ngủ được: Nếu sau 20 phút vẫn tỉnh táo, hãy dậy làm việc gì đó nhẹ nhàng dưới ánh sáng mờ cho đến khi thấy buồn ngủ trở lại.

“Giấc ngủ là nỗ lực của mẹ thiên nhiên nhằm chống lại cái chết.” – Matthew Walker

5. Quan điểm giấc ngủ và giáo dục:

Quan điểm của Walker là chúng ta không thể “ép” não bộ học tập nếu không cung cấp đủ “nhiên liệu” là giấc ngủ. Ông kêu gọi các nhà giáo dục cần nhìn nhận giấc ngủ là một phần của chương trình học chứ không phải là đối thủ của nó. Walker cổ súy việc lùi thời gian bắt đầu học tại trường như cách các trường ở châu Âu đã áp dụng.

Xem bài chi tiết về quan điểm của Walker về giấc ngủ và giáo dục tại đây: https://knvm.vn/2026/02/06/co-mot-ngan-hang-ky-uc-mang-ten-giac-ngu-dung-de-hoc-sinh-bi-pha-san/

Mục tiêu và giải pháp trọng tâm về giáo dục đại học Việt Nam trong Nghị quyết 71/NQ-TW

Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 22/8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW). Sau đây là tổng hợp các mục tiêu và giải pháp trọng tâm về giáo dục đại học Việt Nam được nêu trong Nghị quyết 71-NQ/TW:

🎯 Mục tiêu về giáo dục đại học:

Đến năm 2030

  • Sắp xếp và nâng cấp mạng lưới cơ sở GDĐH và GD nghề nghiệp;
    • 100% cơ sở GDĐH và ít nhất 80% cơ sở GD nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia.
    • 20% cơ sở đạt trình độ hiện đại tương đương các nước phát triển châu Á.
  • Tỷ lệ thanh niên theo học sau trung học phổ thông đạt 50%, trong đó 24% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.
  • Tỷ lệ SV theo học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ ≥ 35%.
  • Ít nhất 6.000 NCS, 20.000 SV theo chương trình tài năng.
  • Nâng tầm đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp quốc gia và vùng.
  • Thu hút ít nhất 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài.
  • Tăng 12%/năm công bố khoa học quốc tế; 16%/năm số sáng chế.
  • Có ≥ 8 trường đại học vào top 200 châu Á, ≥ 1 trường vào top 100 thế giới theo lĩnh vực.

Đến năm 2035

  • Hệ thống GDĐH hiện đại, chất lượng, công bằng.
  • 2 cơ sở GDĐH lọt top 100 thế giới trong một số lĩnh vực.

Tầm nhìn 2045

  • Việt Nam có hệ thống GDĐH hiện đại, công bằng, chất lượng, thuộc top 20 quốc gia hàng đầu thế giới.
  • Có ít nhất 5 trường đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới (theo lĩnh vực).
  • GDĐH là động lực cung cấp nhân lực, nhân tài KH-CN cho đất nước phát triển, thu nhập cao.

🛠 Giải pháp trọng tâm về giáo dục đại học

  1. Hoàn thiện thể chế và quản trị đại học
    • Sắp xếp, tái cấu trúc mạng lưới cơ sở GDĐH; giải thể, sáp nhập trường không đạt chuẩn.
    • Xóa bỏ cấp trung gian; nghiên cứu sáp nhập viện nghiên cứu vào ĐH.
    • Tăng quyền tự chủ toàn diện cho ĐH (nhân sự, tài chính, tuyển dụng GS/PGS…).
    • Đổi mới cơ chế tài chính: phân bổ NSNN dựa trên sứ mạng, chất lượng, hiệu quả; dành ≥ 3% NSNN cho GDĐH.
  2. Đầu tư trọng điểm
    • Hiện đại hóa hạ tầng, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu tại các trường trọng điểm.
    • Phát triển 3–5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế.
    • Khuyến khích phát triển các khu đô thị công nghệ cao – đại học, mô hình đại học đổi mới sáng tạo.
  3. Phát triển đội ngũ giảng viên và nhân lực nghiên cứu
    • Tăng cường bồi dưỡng, hỗ trợ giảng viên học tập nâng cao trong và ngoài nước.
    • Chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút giảng viên, nhà khoa học quốc tế.
    • Thực hiện chế độ giảng viên đồng cơ hữu, huy động người giỏi tham gia giảng dạy và nghiên cứu.
  4. Đổi mới chương trình và phương thức đào tạo
    • Chuẩn hóa theo chuẩn quốc tế; tích hợp kiến thức AI, phân tích dữ liệu, khởi nghiệp.
    • Gắn đào tạo sau đại học với nghiên cứu KH-CN và đổi mới sáng tạo.
    • Đổi mới tuyển sinh theo hướng đánh giá năng lực, kiểm soát chuẩn đầu vào, đầu ra.
  5. Thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo & khởi nghiệp
    • Gắn kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp.
    • Hỗ trợ giảng viên, sinh viên triển khai startup, spin-off, dự án đổi mới sáng tạo.
  6. Hội nhập quốc tế sâu rộng
    • Hợp tác liên kết với các đại học uy tín, doanh nghiệp lớn quốc tế.
    • Thu hút đầu tư nước ngoài vào GDĐH.
    • Khuyến khích các ĐH Việt Nam mở phân hiệu, văn phòng đại diện ở nước ngoài.
    • Đẩy mạnh hợp tác đào tạo xuyên biên giới, giáo dục số.

👉 Tóm lại, giáo dục đại học được xác định là nòng cốt để phát triển nhân lực trình độ cao, dẫn dắt nghiên cứu – đổi mới sáng tạo, với mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm top 20 quốc gia hàng đầu thế giới về giáo dục vào năm 2045.

GS Ngô Bảo Châu suy nghĩ về AI

Ảnh sinh bởi AI. Bản dịch bởi ChatGPT. Chú thích (trong ngoặc) bởi Nguyễn Ngọc Tuấn.

Link bài gốc: https://ngobaochau.wordpress.com/2025/08/31/random-thoughts-from-a-wheelchair/

Những suy nghĩ ngẫu hứng từ chiếc xe lăn

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự trân trọng đối với Hội Toán học London về sáng kiến tuyệt vời này, và cảm ơn Hội đã chọn Viện chúng tôi (Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán – VIASM) làm nơi tổ chức cuộc họp toàn cầu đầu tiên. Thay mặt cho VIASM, tôi xin gửi lời chào mừng nồng nhiệt tới các đồng nghiệp đến từ Vương quốc Anh và tất cả quý vị. Với cương vị Giám đốc khoa học của VIASM, tôi có đôi lời muốn chia sẻ về chủ đề khoa học của hội nghị này, đó là Toán học và Trí tuệ nhân tạo. Tôi xin nhân dịp này chia sẻ một vài suy ngẫm mang tính triết lý về chủ đề nóng bỏng này. Mặc dù tôi không có kiến thức kỹ thuật sâu về AI, nhưng tôi có thể nói rằng trong khoảng nửa năm vừa qua, hầu như không ngày nào tôi không suy nghĩ về hiện tượng hấp dẫn này, mà tôi ví như một thiên thạch khổng lồ đang lao tới Trái Đất với tốc độ ánh sáng. Xin quý vị kiên nhẫn cùng tôi trong những suy đoán này.

Khi nghe những người như Sam Altman (cựu Giám đốc điều hành của OpenAI) phát biểu, ta có cảm giác công ty của ông ấy đã chi hàng tỷ đô la để tạo ra một thứ mà chính ông ấy lại lấy làm tiếc vì nó sẽ hủy diệt tất cả chúng ta. Theo Altman, đây là một dạng thảm họa do con người tạo ra mà chúng ta buộc phải góp phần vào. Chúng ta phải dùng hết nguồn nước, làm nóng thêm bầu khí quyển để xây dựng con quái vật này, thứ sẽ lấy đi tất cả công việc của chúng ta. Chẳng phải những gì Altman nói khiến “trí tuệ nhân tạo” trông giống “sự ngu dốt nhân tạo” của con người hơn sao?

Trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, khi máy hơi nước và điện thay thế cho sức cơ bắp con người, những thảm họa quy mô lớn đã diễn ra. Liệu chiến tranh giành thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm công nghiệp dư thừa, hay những cuộc khủng hoảng, thất nghiệp chưa từng có phải là hệ quả trực tiếp của cách mạng công nghiệp? Khó mà xác định, nhưng sự ra đời của máy hơi nước và điện nhiều khả năng đã góp phần gây ra những thảm họa lớn trong nửa đầu thế kỷ XX. Tuy vậy, thật không công bằng khi đổ lỗi cho những phát minh vĩ đại này, bởi về bản chất, chúng giúp con người thoát khỏi những lao động nặng nhọc, ít thú vị. Điều đáng trách là sự bất lực của chúng ta trong việc đổi mới mô hình kinh tế – xã hội để thích ứng với năng lực sản xuất hoàn toàn mới này. Cuối cùng, sự chuyển đổi cũng diễn ra một cách tự nhiên khi lực lượng lao động sản xuất chuyển sang lĩnh vực dịch vụ. Nửa sau thế kỷ XX là giai đoạn thịnh vượng toàn cầu, duy trì bởi hòa bình mong manh trên thế giới, ngoại trừ một vài nơi, trong đó có đất nước chúng ta. Cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX ban đầu khiến cuộc sống con người tồi tệ hơn, nhưng cuối cùng lại cải thiện nó.

Tuy nhiên, đã có những hệ quả ngoài ý muốn. Nửa sau thế kỷ XX chứng kiến một vấn đề sức khỏe cộng đồng mới: lần đầu tiên trong lịch sử, một bộ phận lớn dân số ở một số quốc gia bị béo phì. Điều này có thể dự đoán trước, bởi khi ta sử dụng cơ bắp ít đi, ta sẽ béo phì. Suy rộng ra, có thể dự đoán rằng vấn đề sức khỏe cộng đồng của nửa sau thế kỷ XXI có thể sẽ là “béo phì tinh thần”.

Nhưng không nhất thiết phải như vậy. Nếu tin vào Sam Altman, AI sẽ thay thế con người trong mọi công việc, và vì thế con người sẽ không còn phải làm việc nữa. Điều đó sẽ gây ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở một mặt, và “béo phì tinh thần” ở mặt khác. Tôi tin rằng các nhà kinh tế sẽ có một nhiệm vụ thú vị: xây dựng một mô hình kinh tế khả thi, trong đó nhiều công việc văn phòng hình thành sau cuộc cách mạng công nghiệp trước sẽ biến mất dưới tác động của AI, nhưng đồng thời sẽ xuất hiện những công việc mới. Ông Muti Yung, người phát biểu hôm thứ Hai, cũng có quan điểm tương tự. (GS Muti Yung, ĐH Colombia, Hoa Kỳ có bài nói tại VIASM vào 25/8/2025)

Dù khá rõ ràng rằng nhiều công việc văn phòng sẽ bị AI thay thế, AI chắc chắn không thể đáp ứng tất cả nhu cầu của con người. Vượt lên trên nhu cầu sinh tồn và nhu cầu sinh học, với tư cách con người, chúng ta còn cần phát triển về trí tuệ và tinh thần. Không một cỗ máy nào có thể thay thế chúng ta trong việc sống và phát triển trí tuệ, tinh thần. Tôi muốn tin rằng tiến bộ công nghệ sẽ giảm bớt gánh nặng mưu sinh thường nhật, giải phóng thời gian và năng lượng để chúng ta được phát triển. Một lần nữa, tôi xin dành vấn đề kinh tế cho các nhà kinh tế, nhưng tôi nghi ngờ rằng mô hình kinh tế hiện tại – vốn xây dựng trên các ràng buộc của máy hơi nước và điện – sẽ còn giá trị. Nói cách khác, chúng ta không nên đồng tình với Sam Altman, người cho rằng mục tiêu là xây dựng một siêu máy có khả năng nghiền nát trí tuệ con người, chỉ vì đó là “luật của thị trường tự do”. Luật thị trường tự do là một lý thuyết hấp dẫn, một sản phẩm đáng kinh ngạc của trí tuệ nhân loại, nhưng nó không nên lấn át mục tiêu hàng đầu là duy trì sự sống và phát triển của chúng ta.

Giống như nhiều người trong số quý vị, tôi đã dành thời gian trò chuyện với nhiều mô hình AI khác nhau, và tôi thích sự đồng hành của chúng. Chúng “phi nhân tính” ở chỗ luôn sẵn sàng, nhưng lại “rất con người” ở chỗ vừa thú vị vừa… không đáng tin. Tôi không coi bất kỳ câu trả lời nào của chúng là chân lý, nhưng việc trò chuyện giúp tôi tiếp tục suy nghĩ về một chủ đề, từ đó hình thành hiểu biết của riêng mình. Nếu muốn học hỏi điều gì, AI hiện tại đã có thể là một bạn đồng hành học tập tuyệt vời.

Hôm qua, Bùi Hải Hưng (Viện trưởng Viện trí tuệ Nhân tạo VinAI Research) đã có một bài trình bày khái quát về LLM (mô hình ngôn ngữ lớn – Large Language Model) cho người mới. Ông giải thích rằng cốt lõi của LLM vẫn chỉ là “con vẹt thống kê”, nhưng là một con vẹt có cả Internet trong trí nhớ. Vì thế, nó là một bạn học nói nhiều, có thể gây ấn tượng bởi sự dí dỏm và cách diễn đạt rõ ràng. Tuy nhiên, chúng ta phải thận trọng gấp đôi, bởi bản chất của một con vẹt thống kê là không đáng tin. Kinh nghiệm của tôi là: khi hỏi về một vấn đề tôi hiểu rõ, câu trả lời gần như luôn sai hoặc gây hiểu lầm. Nhưng khi hỏi về vấn đề tôi chưa rõ, câu trả lời lại nghe rất thuyết phục. Vì vậy, hãy luôn cảnh giác.

Từ góc nhìn toán học, khuyết điểm rõ ràng nhất của LLM là sự bất lực hoàn toàn trong việc xây dựng lý thuyết. Lý thuyết, tôi muốn nói, là một hệ thống định nghĩa và các mệnh đề logic cơ bản dựa trên định nghĩa đó, cho phép chúng ta mô tả hiện tượng một cách chính xác và súc tích. Con người cần sự súc tích vì ta không thể xử lý những câu quá dài. Đó là lý do ta cần lý thuyết. Hơn nữa, sự súc tích và chính xác càng cao thì với ta càng đẹp. Trái lại, máy tính có thể xử lý câu dài, và như tôi hiểu từ bài nói của Bùi Hải Hưng, với LLM, thực ra chỉ có một câu siêu dài được xây dựng từng từ. Trong kiến trúc hiện tại, LLM dường như vốn dĩ không thể xây dựng lý thuyết. Thay vì xây dựng những cỗ máy mạnh hơn trên cùng kiến trúc – vốn cần thêm nước và điện – có lẽ cần tìm kiếm những mô hình mang những giới hạn tương tự như trí óc con người để tạo ra một AI thực sự là bạn học thông minh.

Từ góc nhìn giảng dạy, thách thức lại khác. Các mô hình AI hiện nay đã có thể giải quyết hầu hết các bài toán mà chúng ta thường giao cho sinh viên. Nhưng đối với giáo viên, điều đó không có giá trị tích cực, vì chúng ta không cần câu trả lời, chúng ta muốn sinh viên tự tìm ra. Nói ngắn gọn, AI ở hình thức hiện nay gây hại nhiều hơn lợi cho việc dạy toán. Giống như ta cần các nhà kinh tế tìm ra cách thức giao dịch kinh tế mới trong kỷ nguyên AI, chúng ta – những người dạy học – cũng phải tự đặt câu hỏi về việc tái phát minh cách dạy toán và cách đánh giá sự tiến bộ của sinh viên. Điều này đòi hỏi nhiều hơn là những suy đoán nhàn rỗi của tôi trên chiếc ghế lăn này, nhưng tôi tin rằng giải pháp tồn tại. Dù đó là học tập dựa trên khám phá hay quay lại với hình thức thi vấn đáp, chúng ta cần phải làm một cách hệ thống, bởi đây là vấn đề hệ trọng. Chúng ta không muốn lặp lại tình huống buộc sinh viên dùng cái gọi là “máy tính khoa học” chỉ vì chúng ta chưa nghĩ ra cách tích hợp tính toán khoa học thực sự vào chương trình học.

Đó là tất cả những gì tôi muốn nói. Trước sự xuất hiện của AI, chúng ta cần đánh giá lại mọi khía cạnh trong cách chúng ta sống chung, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng. AI có khả năng giải phóng chúng ta khỏi nhiều công việc nhàm chán, cho phép chúng ta tập trung trí tuệ vào những câu hỏi cốt lõi liên quan đến sự phát triển trí tuệ và tinh thần. Nhưng trước khi đạt tới đó, nếu không cẩn trọng suy xét và tổ chức lại đời sống tập thể một cách sâu sắc, AI có thể trước hết sẽ dẫn đến thảm họa với những mất mát to lớn về con người, trước khi mang lại cải thiện.

Xin trân trọng cảm ơn quý vị đã lắng nghe.

Các loại thông tin cần thiết trong một doanh nghiệp hiệu quả

Bài viết này mô tả các loại dữ liệu khác nhau mà một doanh nghiệp hiệu quả cần. Các loại dữ liệu doanh nghiệp mà chúng ta sẽ thảo luận bao gồm: dữ liệu chiến lược (strategic data), dữ liệu chiến thuật (tactical data), dữ liệu lịch sử (historical data), và dữ liệu giao dịch (transactional data).

  • Dữ liệu chiến lược là loại dữ liệu được sử dụng bởi ban lãnh đạo cấp cao để đưa ra các quyết định và cần thiết cho việc lập kế hoạch dài hạn. Loại dữ liệu này có thể bao gồm thông tin như môi trường kinh doanh, dự báo kinh doanh, dự báo doanh số, dự báo nhà cung cấp và các loại thông tin khác ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp, giúp đưa ra những quyết định có tác động sâu rộng. Loại dữ liệu này liên quan đến các quyết định có tầm nhìn xa, từ 1 năm, 5 năm, đến 10 hoặc 20 năm. Khi doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định dựa trên loại dữ liệu này, họ có thể thiết lập các mục tiêu chiến thuật, dẫn đến phần tiếp theo: dữ liệu chiến thuật.
  • Dữ liệu chiến thuật là loại dữ liệu được các nhà quản lý sử dụng để vận hành doanh nghiệp hàng ngày. Dữ liệu này cần thiết để đạt được các mục tiêu ngắn hạn, được đặt ra nhằm giúp doanh nghiệp từng bước tiến tới các mục tiêu dài hạn. Nó có thể bao gồm dữ liệu ở cấp độ đơn vị hoặc nhóm, chẳng hạn như dữ liệu chỉ liên quan đến nhóm tiếp thị hoặc đơn vị bán sản phẩm cụ thể.
  • Dữ liệu lịch sử bao gồm tất cả các dữ liệu chiến lược và chiến thuật trong quá khứ. Loại dữ liệu này cần thiết để hiểu xu hướng và thiết lập các tiêu chuẩn. Ví dụ, làm sao bạn biết mình đang nhận được một mức giá tốt nếu không biết dữ liệu lịch sử về giá mà nhà cung cấp đã từng cung cấp? Hoặc làm sao bạn biết giá thuê bất động sản hợp lý nếu không biết giá thị trường trước đây? Dữ liệu lịch sử cũng rất quan trọng để hiểu doanh nghiệp đã ở đâu, từ đó đưa ra quyết định tốt hơn về nơi doanh nghiệp sẽ đi tới.
  • Dữ liệu giao dịch là dữ liệu mô tả một sự kiện hoặc giao dịch xảy ra trong quá trình vận hành doanh nghiệp. Tất cả mọi thứ liên quan đến hoạt động kinh doanh, từ việc lập hóa đơn cho khách hàng, trả lương cho nhân viên, đến số lượng hàng tồn kho, đều thuộc loại dữ liệu này. Nếu bạn có một doanh nghiệp với hàng tồn kho vật lý, dữ liệu giao dịch bao gồm cả số lượng tồn kho. Dữ liệu này không chỉ hữu ích làm tham chiếu để đưa ra các quyết định trong tương lai, mà còn cần thiết cho các mục đích báo cáo tài chính và thuế.

Trên đây các loại dữ liệu khác nhau mà một doanh nghiệp hiệu quả cần.

Bạn đọc có thể đọc thêm bài Phân loại thông tin.

GDVN – Huy động nguồn lực tài chính cho GDĐH rất khó nếu không có quyết tâm chính trị

GDVN – Trong các nguồn lực cần đầu tư cho giáo dục và đào tạo thì nguồn lực tài chính rất quan trọng và vẫn là chính yếu.

Để có hệ thống đại học của quốc gia lớn mạnh, dẫn dắt đất nước phát triển thì chắc chắn chúng ta phải có đội ngũ nhà giáo tốt – yếu tố chủ chốt đi cùng với hạ tầng, cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại…

Và tất nhiên có được những thứ đó chúng ta cần phải đầu tư thực sự, chứ không phải “tiết giảm chi tiêu” và “kêu gọi đóng góp” từ xã hội.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”.

Trong bối cảnh cách mạng công nghệ, muốn phát triển đất nước hùng cường, nhất định phải cần nguồn nhân lực đủ mạnh. Trong khi muốn có nguồn nhân lực chất lượng tốt chắc chắn phải có hệ thống trường đại học của đất nước thực sự mạnh.

Chúng ta không thể trông cậy vào việc nhờ các đại học hàng đầu thế giới giúp chúng ta đào tạo nguồn nhân lực chất lượng tốt để phát triển đất nước hùng cường.

2 (1).jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Ngược lại, nếu chúng ta vẫn quan niệm không cần đầu tư đại học trong nước mà chỉ cần gửi người đi học ở các nước để phát triển nguồn lực thì trong bối cảnh cạnh tranh nguồn lực như hiện nay, chúng ta sẽ mất nhiều hơn được.

Để có hệ thống đại học của quốc gia lớn mạnh, dẫn dắt đất nước phát triển thì chắc chắn chúng ta phải có đội ngũ nhà giáo tốt – yếu tố chủ chốt đi cùng với hạ tầng, cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại…

Và tất nhiên có được những thứ đó chúng ta cần phải đầu tư thực sự, chứ không phải “tiết giảm chi tiêu” và “kêu gọi đóng góp” từ xã hội.

Trong các nguồn lực cần đầu tư cho giáo dục và đào tạo thì nguồn lực tài chính rất quan trọng và vẫn là chính yếu. Thế nhưng, trong thực tế vẫn còn rất nhiều thứ khó gỡ cho câu chuyện tài chính.

Câu chuyện tài chính của giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Hiện nay, giáo dục đại học Việt Nam có 2 loại hình chính, đó là công lập và ngoài công lập. Ngoài công lập cũng được phân chia thành các mô hình khác nhau, nhưng cơ bản vẫn hoạt động như một doanh nghiệp, đóng góp nguồn thu cho ngân sách và nguồn lực xã hội cũng rất đáng kể.

Tuy nhiên, nếu để đầu tư vào một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hay một số lĩnh vực công nghệ đặc thù mà có số người theo học ít trong khi chi phí đầu tư cao, thì rất khó có trường ngoài công lập nào theo đuổi.

Thông thường, trường ngoài công lập chỉ đầu tư đào tạo các ngành có số người theo học nhiều và ít phải đầu tư hơn.

Hệ thống đại học công lập hiện nay không còn “bao cấp” như trước đây (trừ khối trường công an, quân đội).

Các trường đại học công lập, ngoài đất đai, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư trước và một số có một phần chi thường xuyên, còn lại các trường phải lo tìm nguồn thu để đầu tư cho con người và đầu tư phát triển.

Và như thế cuộc chạy đua, cạnh tranh trong thị trường giáo dục dù chưa được đề cập một cách cụ thể, nhưng không thể nói là hoàn toàn được kiểm soát, ngược lại đâu đó vẫn ẩn chứa nhiều điều thiếu bền vững.

3 (1).JPG
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Nguồn lực xã hội được cho là có thể huy động cho đại học bao gồm: học phí, tài trợ (trong nước và quốc tế), các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hoặc đầu tư khác.

Từ nhiều năm nay, mỗi khi nói đến xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn thu cho giáo dục đại học, người ngoài có thể kể ra rất nhiều thứ có thể thu, nhưng người trong cuộc cũng kể ra hàng tá thứ khó, không dám làm. Và sự thật là như vậy. Kể cả về lí thuyết các trường công lập được quyền vay tín dụng để đầu tư phát triển, nhưng thực tế cũng không dễ.

Tương tự như vậy, nhận tài trợ từ nước ngoài, trường đại học chỉ là bên nhận, thậm chí là không hoàn lại và không phải đối ứng, nhưng cũng không dễ. Cho dù khoản tài trợ nhỏ, nhưng thủ tục cũng rất dài dòng và thật sự là rất khó sử dụng.

4 (1).jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Mặt khác, khai thác đất, công trình của nhà trường để cung cấp các dịch vụ trong trường cho dù tự chủ hay chưa tự chủ cũng phải thủ tục xin phép…

Nhiều cái khó cho bản thân các trường đại học, nhưng khi đề cập vấn đề với cơ quan quản lí thì họ cũng nêu nhiều lí do khó vì cơ chế, vì quy định liên quan. Bởi tất cả cũng vì một mục tiêu là cần làm đúng quy định!

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các đại học ở các nước phát triển có xu hướng xâm nhập và cạnh tranh với các đại học trong nước, xu hướng sính ngoại của một bộ phận người Việt trong xã hội cũng là một thách thức và nhiều rủi ro cho giáo dục đại học nước nhà.

Nhìn chung, trong nền kinh tế thị trường hoàn hảo và cạnh tranh lành mạnh thường thúc đẩy sự phát triển, nhưng với lĩnh vực giáo dục và đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh thiếu lành mạnh thì rủi ro sẽ là vô cùng to lớn.

Các trường đại học đã nỗ lực, nhưng kết quả chưa đạt như kỳ vọng

Ở khía cạnh quản lí nhà nước, một số người cho rằng các đại học chưa thay đổi tư duy, chưa chủ động để tự chủ, đổi mới… Do vậy cần phải có cạnh tranh và nhất là cạnh tranh với các đại học nước ngoài mới hi vọng đổi mới.

Có vẻ như suy nghĩ như vậy một mặt không sai với một số ít trường nhưng ở diện rộng, trên toàn hệ thống thì là một vấn đề rất đáng phải quan tâm.

Nhìn kĩ lại, với cơ chế quản lí nhà nước như hiện nay không dễ gì các đại học vươn ra để phát triển, cạnh tranh với các trường đại học quốc tế trong khi nguồn tài chính quá hạn chế và bị gò bó bởi rất nhiều quy định.

5 (1).jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Tự chủ đại học mới hình thành, mô hình quản trị cũng chưa thực sự rõ ràng, trong khi nguồn ngân sách từ nhà nước đã cắt giảm…

Và nếu chỉ trông chờ vào học phí thì không dễ gì phát triển, trong khi hiện nay, xã hội cũng chưa “chấp nhận trả” học phí cao cho giáo dục đại học trong nước tương tự như chi trả cho du học.

Mặt khác, đại học ngoài công lập nghĩ rằng bản thân họ bị đối xử không công bằng, trong khi trường công có đất, có cơ sở hạ tầng….

Trường công lập thì nghĩ cạnh tranh tuyển sinh, tự do xác định mức học phí và đầu tư mua sắm, tự quyết các chính sách thu hút nguồn nhân lực… là lợi thế cho các trường tư thục.

Nói chung, ai cũng nghĩ người khác thuận lợi hơn mình, nhưng nếu phân tích kĩ ra thì cũng chẳng ai hoàn toàn thuận lợi cả.

Có thể cái khó chung của các đại học công lập và ngoài công lập là mọi nỗ lực để phát triển vẫn luẩn quẩn huy động tài chính từ nguồn thu học phí.

Thật ra, vì còn nhiều lí do khác nhau, doanh nghiệp chưa sẵn sàng đầu tư hay tài trợ cho các trường đại học.

Ngược lại khi sử dụng lao động sản phẩm từ trường đại học thường thì họ đòi hỏi cao ở chất lượng đầu ra và than phiền vì các trường chưa đáp ứng yêu cầu đầu ra có thể sử dụng ngay mà phải đào tạo lại?

6 (1).jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Trong khi một số các doanh nghiệp lớn mạnh thì xu hướng xin được tự đầu tư mở trường riêng, thay vì đầu tư hay tài trợ vào các trường đại học đã lớn mạnh, để cùng nghiên cứu và đào tạo nguồn lực để sử dụng.

Nhận thức về giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đâu đó vẫn còn nhầm lẫn trong xã hội và thậm chí là ngay cả trong những người tham gia làm giáo dục và quản lí giáo dục. Chính vì vấn đề đó mà chưa có sự tham gia để cùng kiến tạo phát triển một cách bài bản xuyên suốt.

Cho dù còn nhiều điểm rất khác nhau, nhưng điểm chung nhất đều nhận thức rõ ràng rằng, nguồn nhân lực để phát triển đất nước là rất quan trọng; vai trò của trường đại học đối với sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là rất lớn và để các trường đại học phát triển và đóng góp cho sự phát triển đất nước thì đầu tư tài chính là rất cần thiết.

Xoay quanh vấn đề đó, gần đây nhiều diễn giả nêu quan điểm về nền kinh tế chia sẻ và vai trò của các bên đối với đầu tư cho giáo dục đại học rất cần phải được thúc đẩy. Về nguyên tắc là vậy, nhưng để hiện thực hóa thì cần phải luật hóa và định hướng phát triển văn hóa chia sẻ.

Sứ mệnh của trường đại học và bài toán tài chính

Hiện nay, trường đại học của chúng ta đã có nhiều cấp quản lí và nhiều kiểu khác nhau. Có trường thuộc địa phương quản lí; có trường do bộ, ngành quản lí; có trường do gia đình đầu tư, có trường do doanh nghiệp thành lập…

Bài toán tài chính giáo dục đại học: Tăng ngân sách hay tái cơ cấu đầu tư?

Người sử dụng lao động khen chê khác nhau vì nhu cầu sử dụng nhân sự khác nhau và nhận thức về bằng cấp, tay nghề khác nhau…

Dù tên gọi thế nào thì nếu xác định giáo dục đại học từ sứ mệnh của đại học và tập trung đầu tư để phát triển đảm bảo duy trì được sứ mệnh đó thì chắc chắn hình thành nên các đại học mạnh.

Tất nhiên, bản thân trường đại học nếu đủ lực về tài chính và kiên định mục tiêu, sứ mệnh là rất cần, nhưng điều kiện đủ để thành công vẫn phải cần cả hệ thống chính trị và toàn xã hội hiểu đúng mới kiên trì thực hiện được.

Sứ mệnh của trường đại học trước tiên phải (1) sáng tạo tri thức (tức nghiên cứu khoa học là hàng đầu), tiếp đến là (2) truyền bá tri thức (tức giảng dạy, bồi dưỡng…) và thứ ba là (3) phục vụ cộng đồng, xã hội.

Nếu kiểm đếm một cách thật kĩ lưỡng thì vẫn có trường chưa đầu tư cho nghiên cứu đúng nghĩa mà chủ yếu là tuyển sinh giảng dạy, thậm chí gửi cho doanh nghiệp đào tạo, huấn luyện là chủ yếu. Thực chất đó chính là giáo dục nghề nghiệp không phải là giáo dục đại học.

Cũng có trường đầu tư nghiên cứu chỉ để công bố, để tăng thứ hạng thành tích, chứ việc nghiên cứu và giảng dạy, phục vụ cộng đồng không nhiều.

Mỗi khi kiến thiết mô hình trường đại học bài bản từ triết lí nền tảng thì xã hội mới tin tưởng vào chất lượng và quyết định đầu tư hay tài trợ. Trong trường hợp cơ chế kiểm soát chưa tốt và chưa minh bạch thì rất khó cho tất cả.

7.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Nếu trường đại học kiến tạo sự phát triển dựa trên nền tảng khoa học và kiên định sứ mệnh; đồng thời nguồn lực xã hội đầu tư, tài trợ vào đại học được xác định là đầu tư cho nghiên cứu, cho các hoạt động khoa học, để thu về tri thức khoa học và công nghệ thì đó là thực sự là mô hình tốt đẹp cho phát triển đại học đúng từ bản chất.

Mỗi khi các nguồn đầu tư, tài trợ cho khoa học được duy trì tốt thì đời sống của giảng viên được đảm bảo, năng lực của giảng viên được nâng cao.

Và khi năng lực giảng viên tốt thì đào tạo sinh viên cũng chất lượng tốt. Người học có năng lực tốt thì xã hội cũng được hưởng lợi, đồng thời thúc đẩy mọi lĩnh vực phát triển.

Dù có thế nào đi nữa, nguồn đầu tư hay tài trợ chính cho nghiên cứu khoa học ở các trường đại học vẫn cần từ ngân sách nhà nước.

Với một xã hội phát triển, người dân đóng thuế và theo dõi nguồn chi ngân sách thì việc chi đúng và quản lí hợp lí nguồn chi cho giáo dục và khoa học dễ tạo sự đồng thuận cao.

Bởi lẽ, giáo dục và khoa học luôn trực tiếp hoặc gián tiếp có tác động tích cực đến người dân; rất cần thiết vì lợi ích công thiết thực như thông qua các hoạt động đó sẽ tác động đến chất lượng chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo an ninh, an toàn…

Ngoài ra, nếu có cơ chế, chính sách xã hội tốt, các doanh nghiệp cũng sẽ tham gia đầu tư hoặc tài trợ cho khoa học.

Một đất nước có nền kinh tế phát triển và cạnh tranh lành mạnh, doanh nghiệp cần ý tưởng sáng tạo và công nghệ để phát triển.

Việc đầu tư, tài trợ cho đại học cũng vì lợi ích cho chính doanh nghiệp chứ không chỉ là nghĩa vụ, nghĩa hiệp.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn có thể đầu tư mạo hiểm cho các nhà khoa học để nghiên cứu các công trình vĩ đại hoặc đầu tư sáng chế các sản phẩm, công nghệ mới tốt hơn, có giá trị to lớn.

Hơn nữa, các tổ chức từ thiện cũng là bên liên quan, có thể hỗ trợ, tài trợ cho các đại học thực thi sứ mệnh cao cả. Có thể nói, xã hội lúc nào cũng có rất nhiều vấn đề phát sinh và có cả các đối tượng dễ bị tổn thương.

8 (1).jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Dịch bệnh, thiên tai, bệnh hiểm nghèo, dị tật… là những vấn đề thời nào cũng có. Các nhà từ thiện, các tổ chức thiện nguyện có thể thực hiện các chiến dịch quyên góp kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau thay vì phân phát từ thiện, thì họ tài trợ cho các công trình nghiên cứu để tìm ra các phương thuốc, công nghệ, giải pháp mới hữu ích để quay trở lại cứu giúp những đối tượng khó khăn cũng như giải quyết từ gốc các vấn đề phát sinh, bất trắc.

Mỗi khi các trường đại học nhận được tài trợ, viện trợ đa dạng, phong phú thì áp lực tài chính sẽ giảm; giảng viên tập trung nghiên cứu và đào tạo; sản phẩm nghiên cứu phục vụ cho xã hội, cộng đồng; người học là sản phẩm chính cũng được trang bị kĩ lưỡng về tri thức, phát triển năng lực cũng như cảm nhận được trách nhiệm và hình thành nhân cách tốt hơn.

Tài trợ cho khoa học thông qua đại học là cách tốt nhất thúc đẩy phát triển theo chiều sâu. Ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển, để phát triển hơn và vượt tầm cần phải có những thí nghiệm, thử nghiệm lớn…

“Người trong cuộc” chia sẻ vô vàn khó khăn khi tự chủ tài chính

Nếu những nhà khoa học không được tài trợ kinh phí để thiết kế nghiên cứu cũng như cống hiến thì rất khó có thể tự thân giải quyết các vấn đề hóc búa tạo nên những sản phẩm giá trị.

Các trường đại học nếu chỉ dựa vào học phí của người học để đầu tư phát triển thì chỉ là nhỏ lẻ, chỉ đủ để chứng minh cho người học những thí nghiệm có tính nguyên lí, lí thuyết có sẵn, không thể cùng nghiên cứu và cùng học tập đúng nghĩa như sứ mệnh của đại học.

Những gương điển hình, mẫu mực của khoa học trước đây là những người dấn thân, đam mê, hiến dâng tất cả cho nghiên cứu khoa học; sống trong khổ cực, cơ hàn hi vọng tìm thấy vinh quang từ những việc làm có ích.

Ngày nay, chúng ta không nên và cũng không thể đòi hỏi hay yêu cầu nhà khoa học cũng phải như vậy.

Để có những nghiên cứu tốt, vượt tầm, người làm khoa học và đào tạo người làm khoa học cũng cần phải có cuộc sống tốt, không phải lo lương tháng, lương tuần hay trông chờ các nguồn thưởng bài báo được công bố.

Điều tốt nhất là để họ tự hào vì những công trình của họ có đóng góp như thế nào với học thuật hàn lâm, với những ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực…

Khi nhà khoa học cảm thấy hạnh phúc, năng lượng tích cực sẽ lan tỏa vào giới trẻ, len lỏi vào ý thức của cộng đồng, giúp xã hội trân quý khoa học và ít mù quáng hơn.

Trong thực tế, kết quả của nghiên cứu khoa học thường có tác động lớn, giống như đòn bẩy thúc đẩy phát triển xã hội vượt trội, đồng thời cũng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương thông qua sự chia sẻ, trao đổi từ các hội thảo, hội nghị và các chuyến khảo cứu, trưng bày, triển lãm…

Nếu có những nguồn tài chính đầu tư dài hạn, các nhà nghiên cứu sẽ theo đuổi những ý tưởng khoa học, tự khám phá và tìm kiếm các giải pháp ứng dụng một cách hiệu quả.

Và như vậy, ý tưởng sáng tạo không bị đứt gãy hay bị dừng lại nửa chừng mà có thể kết nối phát triển thành những chuỗi giá trị rất ý nghĩa.

Giải pháp cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

Trước hết, những người làm chính sách cần đầu tư nghiên cứu nhằm xây dựng thể chế đủ mạnh để thúc đẩy nền giáo dục đại học Việt Nam và xem đây chính là chiến lược đột phá như tinh thần của văn kiện Đại hội XIII.

Thực sự chúng ta rất cần hành lang pháp lí thật vững chắc từ các luật như: Luật Khoa học Công nghệ, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Nhà giáo, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư…

Xác định rõ chức nghiệp của giảng viên đại học và trách nhiệm của các trường đại học. Dù công lập hay ngoài công lập khi đã là đại học thì phải đảm bảo là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đã là giảng viên thì phải thực thi chức nghiệp với sứ mệnh một nhà khoa học thực sự và phải có ý thức truyền bá tri thức cũng như phục vụ cộng đồng xã hội một cách dấn thân và phải được Nhà nước tôn vinh, có chế độ hợp lí để đảm bảo sống tốt.

Đặc biệt phải thống nhất quan điểm rằng, giáo dục đại học không bao giờ được xác định là thị trường để đầu tư sinh lời.

Thứ hai, cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2022-2030; đặc biệt là rất cần và nhất thiết phải xây dựng một chiến lược phát triển nhân tài quốc gia.

Đây là cơ sở quan trọng để sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, hình thành các đại học quốc gia, đại học trọng điểm; tập trung nguồn lực đầu tư trọng tâm từ ngân sách với các chương trình dự án trọng tâm vì mục tiêu phát triển nhân tài cho một giai đoạn dài ở tương lai.

Thứ ba, đầu tư công và cơ chế đặt hàng từ Nhà nước đối với các đại học phải được Chính phủ xác định rõ ràng và cần có cơ chế giám sát từ Quốc hội.

Cần có cơ cấu tài chính phù hợp đối với đầu tư công trong lĩnh vực giáo dục đại học; xác định rõ tỉ lệ ngân sách đủ lớn cho giáo dục đại học để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài.

Thứ tư, lĩnh vực sáng chế và sáng tạo cần được khuyến khích và ưu tiên giảm thuế cho doanh nghiệp có đầu tư và sử dụng kết quả từ các công trình phát minh, sáng chế; thúc đẩy khởi nghiệp từ đổi mới sáng tạo.

Cần nhấn mạnh đến các hoạt động đầu tư và tài trợ cho nghiên cứu ở các trường đại học, nhất là các nghiên cứu có tính ứng dụng, phát triển công nghệ, giải pháp mới.

Khi có chính sách cụ thể sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp có trách nhiệm với sự phát triển các đại học. Đồng thời có chính sách hạn chế, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, kinh doanh sử dụng công nghệ lạc hậu…

Mỗi khi chúng quyết tâm như vậy thì mới thúc đẩy phát triển đại học và cũng như thúc đẩy phát triển xã hội lành mạnh hơn, hàm lượng tri thức kết tinh trong hàng hóa, sản phẩm cũng sẽ cao hơn, xã hội phát triển văn minh, hiện đại hơn.

Không đảm bảo nguồn thu, trường ĐH tự chủ tài chính dễ đứng trước nguy cơ xoá sổ

Thứ năm, cần xem đại học như nhà cung ứng dịch vụ đặc biệt và nhà sản xuất hàng hóa đặc biệt, khi đó những người sử dụng dịch vụ và hàng hóa đặc biệt có trách nhiệm chi trả với giá cả đặc biệt tương ứng với giá trị của hàng hóa và dịch vụ.

Đồng thời chính các trường đại học cũng phải có trách nhiệm với chính sản phẩm, dịch vụ cũng như có trách nhiệm “bảo trì”, “bảo hành”…

Thứ sáu, Nhà nước cũng cần phải có chính sách tín dụng cho người dân vay đầu tư học tập ở đại học với mức vay cao hơn, đối tượng rộng hơn hiện nay.

Mỗi khi giá dịch vụ cao và sản phẩm đầu ra rất chất lượng thì chi phí cũng cao. Để đảm bảo công bằng xã hội, chi phí cho việc học đại học cũng là khoản đầu tư cần thiết và đáng lựa chọn.

Ở một khía cạnh tích cực khác, mỗi khi chi phí cao thì trách nhiệm của người học đối với việc học cũng sẽ tốt hơn; việc theo đuổi mục tiêu sẽ thuận lợi hơn một nền giáo dục “giá rẻ”.

Thứ bảy, văn hóa – khoa học – giáo dục luôn có quan hệ khăng khít với nhau và rất cần cho nhau. Để có nền giáo dục đại học chuẩn mực, chất lượng rất cần xây dựng một nền văn hóa với các giá trị chuẩn mực.

Cần nỗ lực để kiến thiết văn hóa chia sẻ trong xã hội cũng như quy định về trách nhiệm giải trình của các bên liên quan.

Có được nền tảng văn hóa tốt, việc huy động nguồn lực tài chính đầu tư cho đại học, cho khoa học sẽ thuận lợi hơn và hi vọng sẽ có nguồn nhân lực thực sự chất lượng. Có như vậy chúng ta sẽ có niềm tin vào một tương lai của đất nước tươi sáng hơn.

Tóm lại, chúng ta luôn ao ước về một nền giáo dục đại học hiện đại, chuẩn mực như nhiều trường ở các nước tiên tiến nhưng nếu nghiên cứu thật kĩ thì không có nơi đâu, thời nào chỉ có màu hồng mà không màu xám.

Giáo dục đại học Việt Nam dù còn nhiều điều đáng phải bàn, nhưng khách quan nhìn nhận thì đã có xu hướng phát triển tốt hơn, hội nhập mạnh hơn.

Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới mô hình quản trị đại học là rất cần và cũng rất cần đổi mới mô hình quản lí nhà nước đối với giáo dục đại học.

Quản trị đại học và quản lí nhà nước rất cần tháo gỡ các nút thắt để khơi thông nguồn tài chính đầu tư, tài trợ cho giáo dục đại học và là vấn đề rất đáng quan tâm từ Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Điều đó nên xuất phát từ một chiến lược phát triển nhân tài tầm cỡ của quốc gia.

Hướng Sáng – GDVN.NET

Từ nay tới năm 2030 cần tăng nguồn lực tài chính cho GDĐH lên ít nhất 2-3 lần

GDVN – Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.

LTS GDVN: Hiện nay, ngân sách đầu tư cho giáo dục đại học đang rất thấp (chỉ chiếm 0,27% GDP theo thống kê của Bộ Tài chính năm 2020).

Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, chúng ta cần tăng lên khoảng 0,8-1% GDP đầu tư cho giáo dục đại học cho đến năm 2030.

Bài toán tài chính với các trường đại học đến nay vẫn là một thách thức lớn. Để hiểu rõ hơn về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Phóng viên: Giáo dục đại học có vai trò quan trọng, đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, cần có đầu tư tương xứng. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn đánh giá như thế nào về nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học Việt Nam hiện nay?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Giáo dục đại học có sứ mạng phát triển con người thế hệ mới, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

Đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư cho phát triển, mang lại hiệu quả trực tiếp và lâu dài cho người học và gia đình (lợi ích riêng hay lợi ích tư) cũng như cho cả nền kinh tế và toàn xã hội (lợi ích chung hay lợi ích công), vì vậy mà cả nhà nước, người học và toàn xã hội cùng có trách nhiệm chia sẻ kinh phí đầu tư.

Quy mô và chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định đó là nguồn lực tài chính.

Thực chất, các yếu tố bảo đảm chất lượng bên trong như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, phương thức đào tạo… cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn lực tài chính.

Theo báo cáo “Giáo dục, đào tạo Việt Nam – Kết quả đánh giá từ Tổng điều tra kinh tế năm 2021” của Tổng Cục thống kê, tổng chi của tất cả cơ sở giáo dục đại học trong năm 2020 là gần 47,8 nghìn tỉ đồng, tương đương 0,6% GDP.

Như vậy, suất chi bình quân trên một người học xấp xỉ 25,8 triệu đồng, tương đương với 31% bình quân GDP trên đầu người, số liệu này khá trùng khớp với tính toán qua khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đáng chú ý là so với năm 2016, tổng chi của khối giáo dục đại học năm 2020 chỉ tăng 0,3 nghìn tỉ đồng (tăng 0,6%), trong khi đó tổng chi của khối giáo dục phổ thông năm 2020 tăng 43,7 nghìn tỉ đồng (tăng 34,2%).

2.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Theo số liệu do Bộ Tài chính cung cấp, dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học năm 2020 là 16,7 nghìn tỉ, tương ứng với 0,96% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,62% dự toán chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo hay 0,27% GDP.

Tuy nhiên, kinh phí thực chi chỉ đạt 11,32 nghìn tỉ, tương ứng 0,65% tổng dự toán chi ngân sách nhà nước, 4,06% ngân sách nhà nước thực chi cho giáo dục, đào tạo hay 0,18% GDP (tỉ trọng kinh phí thực chi cho giáo dục đại học trên GDP năm 2018 là 0,20% và năm 2019 là 0,19%).

Như vậy, dự toán ngân sách nhà nước chiếm 34,9% tổng chi của toàn khối giáo dục đại học (phù hợp với số liệu cơ cấu nguồn thu do Tổng cục Thống kê đưa ra), nhưng tỉ trọng thực chi chỉ đạt 23,7%.

Những con số trên đây cho thấy nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học ở nước ta không những rất thấp, mà thực tế còn giảm trong một số năm gần đây nếu tính tới chỉ số lạm phát.

Mặc dù trong điều kiện như vậy, hệ thống giáo dục đại học đã có những chuyển biến tích cực về quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu và hội nhập quốc tế, nhưng thực tế đang rơi vào “bẫy chất lượng trung bình”.

Có thể nói, nguồn lực tài chính đang là điểm nghẽn lớn nhất đối với phát triển giáo dục đại học và thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của nước ta.

3.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Phóng viên: So với các nước có cùng mức sống và các nước phát triển, nguồn lực đó đang ở mức độ nào, thưa Thứ trưởng?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Theo số liệu thống kê của OECD năm 2020 (không tính đào tạo trình độ cao đẳng), tỉ trọng tổng chi của các cơ sở giáo dục đại học trên GDP bình quân các nước khối OECD đạt 1,4%, khối EU đạt 1,3%, Hàn Quốc 1,4%, Nhật Bản 1,2 %, Australia 1,7% và Anh 1,9%, cao gấp từ 2 đến 3 lần so với Việt Nam (0,6%).

Tính theo suất chi bình quân cho một người học (đại học và sau đại học) trên bình quân GDP/đầu người, bình quân các nước khối OECD là 42%, khối EU 40%, Hàn Quốc 30%, Nhật Bản 49%, Australia 45% và Anh 62%, trong khi tỉ lệ này của Việt Nam là 31% (GDP bình quân đầu người ở Việt Nam thấp hơn nhiều lần so với các quốc gia nói trên).

Biểu đồ 1.jpg
Biểu đồ 2.png

Đối sánh tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo, theo thống kê năm gần nhất (có số liệu) của Ngân hàng thế giới thì bình quân nhóm quốc gia thu nhập thấp đạt 19%, nhóm quốc gia thu nhập trung bình đạt 18% và nhóm quốc gia thu nhập cao đạt 23%, cao hơn gấp 4 đến 5 lần so với Việt Nam (dù lấy số liệu thực chi 4,06% hoặc số liệu dự toán 4,62%).

Tính theo tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP, số liệu bình quân các nước khối OECD trong giai đoạn 10 năm gần đây đều giữ ổn định ở mức xấp xỉ 1%, trong khi Cộng hòa liên bang Đức có tỉ trọng tăng dần và đạt 1,39% vào năm 2020.

Đối với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học trên GDP năm 2020 nằm trong khoảng từ 0,6% tới 0,75%, mặc dù đã giảm nhiều sau một giai đoạn đầu tư mạnh nhiều năm trước (Malaysia năm 2001 đạt 2,56%, Thái Lan năm 2000 đạt 1,07%, Singapore năm 2012 đạt 1,17%).

Biểu đồ 3.png

Như vậy, tính trên tất cả các chỉ số quan trọng, mức đầu tư cho giáo dục đại học của Việt Nam đều thấp hơn nhiều lần so với các nước thuộc nhiều nhóm khác nhau.

Nhìn ngay sang Trung Quốc, một quốc gia điển hình mà chúng ta có thể học hỏi được nhiều từ đổi mới phát triển nền kinh tế dựa trên khoa học và công nghệ, 24 đại học có dự toán ngân sách thu chi lớn nhất năm 2023 đều vượt 10 tỉ Nhân dân tệ, trong đó 4 đại học vượt 20 tỉ Nhân dân tệ (quy đổi sang USD: Đại học Thanh Hoa 5,67 tỉ, Đại học Chiết Giang 4,26 tỉ, Đại học Giao thông Thượng Hải 3,66 tỉ, Đại học Bắc Kinh 3,11 tỉ); chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước bình quân trên một sinh viên/năm là 39.220 Nhân dân tệ (tương đương 5.415 USD).

Phóng viên: Theo Thứ trưởng, chúng ta cần phải tăng nguồn lực tài chính mức nào để đáp ứng yêu cầu năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước có thu nhập cao như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Để đạt được mục tiêu tới năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là một nước phát triển, có thu nhập cao, thì phải thực hiện được đột phá chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phải tháo gỡ được điểm nghẽn về tài chính cho giáo dục đại học và khoa học, công nghệ.

Những số liệu phân tích trên đây đã chỉ rõ, trong giai đoạn tới 2030 chúng ta cần tăng nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học lên ít nhất 2 đến 3 lần so với hiện nay, cả từ ngân sách nhà nước và nguồn lực huy động từ xã hội.

Đây cũng là nội dung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất, kiến nghị trong dự thảo Báo cáo tổng kết 10 thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương khóa XI đã trình Bộ Chính trị, cũng như trong dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục tới 2030 và dự thảo Báo cáo Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm đang trình Thủ tướng Chính phủ.

4.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Phóng viên: Việc huy động các nguồn lực xã hội, sự tham gia của người dân và tổ chức xã hội đối với giáo dục đại học của nước ta hiện còn hạn chế.

Theo Thứ trưởng, làm sao để nguồn lực đầu tư của Nhà nước có thể dẫn dắt đầu tư công, để đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhằm tạo nên một sức bật cho giáo dục đại học nước nhà?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Các nguồn thu chính của các cơ sở giáo dục đại học bao gồm kinh phí từ ngân sách nhà nước, học phí của người học, kinh phí hợp đồng khoa học-công nghệ từ doanh nghiệp, hoạt động dịch vụ khác của cơ sở giáo dục đại học và tài trợ, cho tặng từ các tổ chức, cá nhân.

Như vậy, cần phải đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, đồng thời phải có những chính sách phù hợp nhằm tăng cường huy động các nguồn lực từ xã hội.

Trước hết, cần minh bạch hóa toàn bộ kết quả hoạt động của tất cả cơ sở giáo dục đại học thông qua các chỉ số chủ yếu, bao gồm cả kết quả tài chính, trên cơ sở đó phân tích hiệu quả chi ngân sách nhà nước ở các cấp độ lĩnh vực đào tạo, cơ sở đào tạo và cả hệ thống giáo dục đại học, xây dựng và triển khai hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, lấy hiệu quả đầu tư là tiêu chí chủ yếu.

Đồng thời, gắn phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học với phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ, bảo đảm tỉ trọng ngân sách nhà nước chi cho nghiên cứu, phát triển tại các cơ sở giáo dục đại học tương xứng với năng lực và kết quả hoạt động nghiên cứu, phát triển.

Để thu hút, khuyến khích doanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá nhân hợp tác, tài trợ cho các cơ sở giáo dục đại học trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cần tiếp tục đổi mới các chính sách ưu đãi về thuế.

Khi năng lực của các cơ sở giáo dục đại học được tăng cường đồng thời trình độ của nền công nghiệp nước ta từng bước được nâng lên, nhu cầu hợp tác, tài trợ nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ gia tăng.

5.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn trong cơ chế sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước, trao quyền sở hữu trí tuệ cho các cơ sở giáo dục đại học đối với các kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ từ ngân sách nhà nước, đồng thời cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập đầu tư rủi ro vào các dự án khởi nghiệp, công ty khởi nguồn.

Có như vậy, các cơ sở giáo dục đại học mới thúc đẩy được hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ với doanh nghiệp, cải thiện được cơ cấu nguồn thu đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu.

Trên cơ sở đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, để có thể huy động tốt hơn, hiệu quả hơn sự đóng góp từ người học, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung đổi mới chương trình và phương thức đào tạo, gắn kết với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thị trường việc làm, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, qua đó củng cố niềm tin và thu hút người học.

6.jpg
Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội

Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách học phí gắn với cải tiến và mở rộng các chính sách hỗ trợ người học (đại học và sau đại học), nhất là chính sách học bổng khuyến khích học tập và tín dụng ưu đãi, căn cứ điều kiện kinh tế, năng lực học tập và lĩnh vực, ngành học, không phân biệt trường công lập hay tư thục.

Cuối cùng, chính sách tốt nhất để huy động hiệu quả các nguồn lực từ xã hội đó là tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm tự chủ đại học đi vào chiều sâu, thực chất và toàn diện.

Khi đó, các cơ sở giáo dục đại học sẽ phải đổi mới hệ thống quản trị để phát huy tối đa nội lực, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ nhà nước (bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản trí tuệ, thương hiệu nhà trường) để đẩy mạnh hợp tác và thu hút tài trợ từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.

Các cơ sở giáo dục đại học cũng sẽ phải chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu, giữ gìn lòng tin đối với người học và xã hội thông qua liên tục nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Nói cách khác, cơ chế tự chủ chính là cái đòn bẩy cho phát triển giáo dục đại học, đã có điểm tựa chắc chắn, cần phải gỡ bỏ mọi sức cản và tăng đầu tư nguồn lực của nhà nước vào đúng chỗ.

8.jpg
Giảng viên và sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tại cuộc thi Sáng tạo trẻ năm 2023 (Ảnh minh họa: nguồn Đại học Bách khoa Hà Nội)

Phóng viên: Từ thực tiễn cho thấy, dù chúng ta có tăng nguồn lực từ Nhà nước, từ xã hội đến đâu đi chăng nữa thì cũng không bao giờ đáp ứng được yêu cầu phát triển. Phải chăng chúng ta cần phải xác định rõ những lĩnh vực cần phải ưu tiên, các trình độ của giáo dục đại học cần phải ưu tiên, thưa Thứ trưởng?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn: Đúng vậy, đã là đầu tư thì dù từ nguồn lực của Nhà nước hay xã hội cũng cần ưu tiên vào những nơi mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất, tạo sức bật lớn nhất cho cả hệ thống. Đối với cả hệ thống giáo dục đại học thì đầu tư cho thu hút, đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên gắn với công tác nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ cần phải được ưu tiên hàng đầu.

Đối với người học thì đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện chính sách cần được đặc biệt quan tâm.

Các lĩnh vực đào tạo cần được ưu tiên đầu tư cũng đã được chỉ rõ trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là các lĩnh vực thiết yếu đối với lợi ích chung của toàn xã hội và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, đặc biệt các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ then chốt phục vụ phát triển và ứng dụng công nghệ cao.

Cuối cùng, các cơ sở giáo dục đại học cần được ưu tiên đầu tư nhiều nhất chính là các cơ sở giáo dục đại học công lập có uy tín và năng lực mạnh nhất cả nước và từng vùng về đào tạo, nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên, có khả năng dẫn dắt và ảnh hưởng lan tỏa tới toàn hệ thống.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn.

Thùy Linh (thực hiện)

8 GIAI ĐOẠN TRONG VÒNG ĐỜI DỮ LIỆU

Không có hai dự án dữ liệu nào giống hệt nhau. Tuy nhiên các dự án dữ liệu có xu hướng tuân theo cùng một chu trình.

Subscribe to continue reading

Subscribe to get access to the rest of this post and other subscriber-only content.

Google phát hành Scholar Metrics 2021

Ngày thứ Năm, 22/7/2021, Google phát hành phiên bản 2021 của Scholar Metrics. Đây là bản dịch bài trên blog của Google.

Scholar Metrics cung cấp cho các tác giả một cách dễ dàng nhanh chóng đánh giá khả năng xuất hiện và ảnh hưởng của các bài báo gần đây trong các ấn phẩm học thuật. Hôm nay, chúng tôi phát hành phiên bản 2021 của Scholar Metrics. Bản phát hành này bao gồm các bài báo được xuất bản trong năm 2016–2020 và bao gồm các trích dẫn từ tất cả các bài báo đã được lập chỉ mục trong Google Scholar kể từ tháng 7 năm 2020.

Scholar Metrics bao gồm các tạp chí được đưa vào từ các trang web tuân theo các nguyên tắc của chúng tôi và các hội nghị được chọn trong Kỹ thuật & Khoa học Máy tính. Các ấn phẩm có ít hơn 100 bài báo trong năm 2016 – 2020 hoặc các ấn phẩm không nhận được trích dẫn trong những năm này sẽ không được tính vào.

Bạn có thể duyệt các ấn phẩm trong các danh mục cụ thể như Ngôn ngữ học tính toán, Huyết học hoặc Tôn giáo cũng như các lĩnh vực rộng lớn như Kỹ thuật & Khoa học Máy tính hoặc Nhân văn, Văn học & Nghệ thuật. Bạn sẽ thấy 20 ấn phẩm hàng đầu được sắp xếp theo chỉ số h-index và h-median trong 5 năm của chúng. Bạn cũng có thể duyệt qua 100 ấn phẩm hàng đầu bằng một số ngôn ngữ – ví dụ: tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha. Đối với mỗi ấn phẩm, bạn có thể xem các bài báo hàng đầu bằng cách nhấp vào mục h5-index.

Chỉ số Scholar bao gồm một số lượng lớn các ấn phẩm ngoài những ấn phẩm được liệt kê trên các trang cho mỗi danh mục và mỗi ngôn ngữ. Bạn có thể tìm thấy những điều này bằng cách nhập các từ từ tiêu đề vào hộp tìm kiếm, ví dụ: [tin học], [giáo dục đặc biệt], [salud].

Để biết thêm chi tiết, hãy xem trang trợ giúp về Các chỉ số Scholar.

Nguồn bài: https://scholar.googleblog.com/2021/07/2021-scholar-metrics-released.html